đặt vấn đề,giới thiệu tình huống để lôi cuốn các bạn tập trung chú ý và cùng làm việc. Việc tổ chức học tập sáng tạo cho trẻ có thể ở trong lớp hay ngoài trời, tùy thuộc vào điều kiện thời tiết và nội dung bài dạy. Một không gian thoáng đãng, tràn đầy nắng gió, an toàn cho sức khỏe hay phòng lớp có số lượng trẻ vừa phải sẽ khởi đầu cho tiết học hay. Với tất cả bài học, cô giáo có thể nhờ trẻ cùng chuẩn bị nội dung và đồ dùng học tập, giáo viên cần chủ động chuẩn bị nhiều hoạt động phù hợp và hệ thống câu hỏi đa dạng, thích ứng với từng đối tượng trẻ.
Trẻ sẽ thu nhận vững chắc kiến thức mới nếu được tập trung chú ý, rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết dựa trên vốn sống thực tế đã có và hoc bằng thị giác, thính giác, xúc giác, vận động trí óc và chân tay. Việc tổ chức nhóm thảo luận cũng là một phần quan trọng của bài học nhằm giúp trẻ phát huy năng lực trí tuệ tập thể. Không khí học tập trở nên hứng khởi khi phần thảo luận được phân chia đều trong nhóm. Mỗi em phải thể hiện quan điểm cá nhân độc lập với bài học hoặc suy luận của bạn trong nhóm, bạn cùng lớp.
Trong lúc trao đổi ý kiến, mục tiêu bài học được hình thành, tư duy sáng tạo được phát triển, khả năng ghi nhớ và ngôn ngữ diễn đạt có điều kiện nâng cao. Sau tổ chức làm việc nhóm phải cần chú ý đến sản phẩm cá nhân. Đây là kết quả học tập của từng trẻ. Mỗi em biết tận dụng thế mạnh của mình để giải quyết các yêu cầu của bài học, bài luyện tập.
Dựa trên khả năng tiềm ẩn, trẻ đã học một cách sáng tạo, khi có thể giải thích, vận dụng một kiến thức mới đã học bằng tranh vẽ, xếp hình, sơ đồ mạng và có thể tự sáng tác bài vè, bài thơ ngắn chứa chan tình cảm. Giáo viên cần nhìn nhận từng khả năng nơi trẻ để có cách đánh giá chính xác, nhất là những trẻ có khó khăn về tiếp nhận, xử lí thông tin. Giáo viên hãy gợi mở giúp trẻ tìm ra con đường học tập cho chính mình, dù mất nhiều thời gian, tốn nhiều công sức đi qua đoạn đường vòng nhưng có cơ hội nảy sinh ý tưởng mới, rút ra cách 16 giải quyết mới lạ, đúng đắn. Chính kết quả làm việc của nhóm hay cá nhân được trưng bày trong lớp đã minh chứng cho cách học tập đạt hiệu quả và sáng tạo.
Lúc đó, việc học tập đối với các em sẽ trở nên hào hứng, mỗi em đều có thể tự tin rằng mình cũng thông minh và cho rằng học cũng như chơi, nhẹ nhàng mà hiệu quả, có thói quen nghĩ ra nhiều cách mới, linh hoạt và hấp dẫn hơn. Từ việc yêu thích học tập, trẻ sẽ tập trung chú ý trong khi học. Khả năng chú ý cao là cánh cửa của tri thức, tiềm năng cần có của một người năng động, thành tài trong tương lai. Giáo dục kĩ năng sống 1.
Khái niệm Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng giáo dục, làm cho họ dần dần có những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra. Trong các nhà trường giáo dục là một quá trình hình thành và phát triển nhân cách người học, được tiến hành có mục đích có kế hoạch dưới vai trò chủ đạo của người giáo viên và sự tích cực, tự giác chủ động sáng tạo của trẻ, được thực hiện thông qua hoạt động và giao lưu nhằm giúp người học biến kinh nghiệm xã hội lịch sử thành kinh nghiệm cá nhân người học. Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một quá trình dưới tác động sư phạm của người giáo viên, người học tự giác tích cực, chủ động, tự tổ chức hoạt động, tự giáo dục nhằm hình thành ý thức, thái độ, niềm tin, hành vi phù hợp với yêu cầu của xã hội. Giáo dục kĩ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp.
Giáo dục kĩ năng sống có những tính chất cơ bản sau: - Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình giáo dục có mục đích, có kế hoạch và biện pháp cụ thể. - Nhà giáo dục đóng vai trò là cố vấn, nhà tổ chức và hướng dẫn, khuyến khích và động viên người học. 17 - Người được giáo dục kĩ năng sống phải chủ động, tích cực và đòi hỏi tính tự giác rất cao. - Quá trình giáo dục kĩ năng sống có tính năng động cao, mục đích cuối cùng là hành vi lành mạnh và một phần nhỏ về lợi ích kinh tế cho cá nhân và xã hội, quá trình này không quá coi trọng vấn đề tri thức nhưng lại rất chú trọng kĩ năng cụ thể.
- Giáo dục kĩ năng sống là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi nhiều lực lượng tham gia. Ý nghĩa của việc giáo dục kĩ năng sống - Xét từ góc độ xã hội: Do đặc điểm của xã hội hiện nay nên sự hình thành và phát triển kĩ năng sống trở thành một yêu cầu quan trọng của nhân cách con người hiện đại. Hội nghị Giáo dục Thế giới họp tại Senegan tháng 4 - 2000 đã thông qua kế hoạch hành động giáo dục cho mọi người (kế hoạch hành động Dakar) gồm 6 mục tiêu lớn. Trong đó 3 mục tiêu đã vạch ra rằng: Đảm bảo nhu cầu học tập của tất cả thế hệ trẻ và người lớn được đáp ứng thông qua bình đẳng tiếp cận với các chương trình học tập và chương trình kĩ năng sống thích hợp.
Thông qua việc giáo dục kĩ năng sống mỗi người có thể phát triển các kĩ năng phân tích, tu duy phê phán, ra quyết định (học để biết); tự trọng, thiện chí, sáng tạo (học để khẳng định mình); giao tiếp, sống với người khác, giải quyết xung đột hợp tác và cam kết xã hội (học để chung sống với mọi người); giải quyết ổn thỏa đối với mọi việc khác nhau (học để làm). Như vậy giáo dục kĩ năng sống là việc làm vô cùng cần thiết. - Xét từ góc độ giáo dục: + Kĩ năng sống của người học là một biểu hiện của chất lượng giáo dục. Do đó trong mục tiêu 6 của kế hoạch hành động Dakar về giáo dục cho mọi người kĩ năng sống được coi là một khía cạnh của chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến những tiêu chí đánh giá kĩ năng sống của người học.
Như vậy tiến hành giáo dục kĩ năng sống để nâng cao chất lượng giáo dục. + Giáo dục kĩ năng sống là thực hiện quan điểm hướng vào người học, một mặt đáp ứng nhu cầu của người học tạo ra năng lực để đáp ứng thách thức của cuộc 18 sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân. Mặt khác thực hiện giáo dục kĩ năng sống thông qua những phương pháp hướng đến người học và phương pháp dạy học tương tác, cùng tham gia, đề cao vai trò chủ động, tự giác của người học và vai trò chủ đạo của người dạy sẽ có những tác động tích cực đối với mối quan hệ người dạy và người học, người học với người học. Đồng thời, người học cảm thấy họ được tham gia vào giải quyết các vấn đề có liên quan đến cuộc sống của bản thân, họ sẽ thích thú và học tập tích cực hơn.
Như vậy giáo dục kĩ năng sống cho người học đồng thời thể hiện tính khoa học và tính nhân văn của giáo dục. - Xét từ góc độ văn hóa, chính trị: + Giáo dục kĩ năng sống giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong pháp luật Việt Nam và quốc tế. + Giáo dục kĩ năng sống giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng trong một xã hội hiện đại với văn hóa đa dạng, với nền kinh tế phát triển và thế giới được coi là mái nhà chung. - Giáo dục kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển bền vững.
+ Giáo dục kĩ năng sống giúp người học hiểu được những tác động mà hành vi và thái độ của mình có thể gây ra, do đó họ biết ứng dụng những nguyên tắc phát triển bền vững và cuộc sống của mình. Người có kĩ năng sống là người có thái độ và hành vi tích cực đối với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, đối với các vấn đề của cuộc sống. + Việc hình thành những kĩ năng sống cốt lõi như: kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định… sẽ giúp cho mỗi cá nhân có thể định hướng tới cuộc sống lành mạnh phù hợp với các giá trị sống của xã hội, để có những hành vi tích cực trong giải quyết các vấn đề của cuộc sống giúp thúc đẩy phát triển bền vững của cá nhân và của tập thể. Bên cạnh những kĩ năng sống cốt lõi trên, những kĩ năng sống chung như tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, thiện chí… còn được áp dụng vào giải quyết các nội dung cụ thể để tạo ra sự phát triển bền vững.
Đặc điểm tâm lí của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 19 Mọi tác động giáo dục lên hoạt động nhận thức của trẻ chỉ có hiệu quả khi nhà giáo dục nắm vững những đặc điểm tâm lí nói chung và khả năng nhận thức nói riêng của trẻ theo từng lứa tuổi. Các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi cũng vậy, chỉ đạt hiệu quả khi nhà giáo dục nắm được đặc điểm tâm lí và khả năng nhận thức của trẻ ở độ tuổi này. Cảm giác - Tri giác Ở lứa tuổi mẫu giáo lớn 5-6 tuổi cùng với sự hoàn thiện của các giác quan thì hoạt động nhận cảm của trẻ tiếp tục được hoàn thiện, độ nhạy cảm của các giác quan được nâng cao, việc phân tích các thuộc tính của sự vật, hiện tượng xung quanh hiệu quả hơn trước. Hệ thống tín hiệu thứ hai tham gia tích cực hơn vào quá trình phân tích làm cho cảm giác trở nên chính xác, cụ thể hơn và đồng thời làm cho cảm giác có tính “tự giác”.
Cùng với cảm giác, tri giác của trẻ cũng phát triển mạnh. Chính độ nhạy cảm cao của các giác quan, cũng như sự phối hợp hoạt động hài hòa, linh hoạt, mềm dẻo của chúng giúp cho các quá trình nhận thức của trẻ diễn ra nhanh chóng và hiệu quả.