chương 1), Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy định: “ Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch s ử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.[10] Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch. Để thu hút và đáp ứng nhu cầu của khách du lịch, các sản phẩm du l ịch c ần phải đa dạng, phong phú, đặc sắc và mới mẻ.
Tài nguyên du lịch được xem là nhân tố quan trọng để thu hút khách du lịch nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng. Tài nguyên du lịch càng phong phú, đặc sắc và có mức tập trung 12 cao thì càng có sức hấp dẫn với du khách và có hiệu quả kinh doanh du lịch càng cao. Cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch theo nghĩa rộng là toàn bộ các phương tiên vật chất kỹ thuật được huy động tham gia vào việc khai thác tài nguyên du l ịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách nói chung và khách du lịch quốc tế nói riêng trong các chuyến hành trình của họ. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Cơ sở vật chất của kỹ thuật du lịch bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thỏa mãn các nhu cầu của khách du lịch như : khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của cơ sở du lịch.
Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đóng vai trò quan tr ọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch. Cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng là những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng nên mà là của toàn xã hội. Đó là hệ thống đường sá, nhà ga, bến cảng, đường sắt, công viên của toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng l ưới điện, các rạp chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng. Trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã hội, nhân tố phục vụ đắc lực nhất và có tầm quan nhất đối với du lịch là hệ thống giao thông vận tải (đ ường hàn không, đường bộ, đường thủy).
Đây chính là cơ sở vật chất kỹ thuật bậc hai đối với du lịch. Nó được xây dựng để phục vụ nhân dân địa phương và sau nữa là phục vụ cả khách du lịch đến thăm đất nước hoặc vùng du lịch. Đây là cơ sở có tầm quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật tốt, không ngừng được đổi mới và hoàn thiện sẽ tạo điều kiện thu hút khách du lịch quốc tế và ngược lại.
Đội ngũ lao động Nguồn nhân lực luôn là yếu tố cốt lõi trong mọi hoạt động, bởi con người bằng hành động có nhận thức của mình tác động theo nhiều phương thức khác nhau vào các yếu tố vật chất tạo ra sản phẩm và dịch vụ phục vụ cuộc sống. Đây là tác nhân quan trọng sử dụng các công cụ cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch để khai thác các tài nguyên du lịch, mang đến cho khách du lịch quốc tế các sản phẩm du lịch và dịch vụ tốt nhất. Lao động trong du lịch phần lớn là lao động kỹ thuật, đòi hỏi có sự chuẩn bị nghiệp vụ cao. Sự chuyên môn hóa thể hiện rõ rệt nhất ở các cơ sở phục vụ lưu trú, ăn uống, du lịch.
So với lao động trong các ngành khác thì lao động trong ngành du lịch có cường độ thấp hơn nhưng l ại ở trong môi trường lao động phức tạp và phải chịu áp lực tâm lý cao. Đặc điểm này thể hiện rõ nét đối với những người lao động có quan hệ trực tiếp với khách như: phục vụ buồng, bàn, bar, hướng dẫn viên du lịch, họ phải tiếp xúc với nhiều đ ối tượng khách du lịch khác nhau với những đặc điểm tâm lí xã hội khác nhau. Vậy nên đội ngũ lao động có trình độ, có chuyên môn nghiệp vụ chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là đội ngũ lao động phải có tinh thần phục vụ tốt, làm việc hết sức chuyên nghiệp để tạo cảm giác thân thân thiện và thỏa mái cho du khách. Đội ngũ lao động hội tụ đủ các điều kiện trên chắc chắn sẽ là một tác nhân quan trọng để giúp thu hút khách du lịch quốc tế 1.
Chính sách phát triển du lịch [10] - Nhà nước có cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển du lịch để bảo đảm du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. - Nhà nước có chính sách khuyến khích, ưu đãi về đất đai, tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực sau đây: + Bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; + Tuyên truyền, quảng bá du lịch; + Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch; 14 + Nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm du lịch mới; + Hiện đại hoá hoạt động du lịch; + Xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch, nhập khẩu phương tiện cao cấp phục vụ cho việc vận chuyển khách du lịch, trang thiết bị chuyên dùng hiện đại cho cơ sở lưu trú du lịch hạng cao và khu du lịch quốc gia; + Phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhằm sử dụng lao động, hàng hoá và dịch vụ tại chỗ, góp phần nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo. - Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị du lịch, khu du lịch, điểm du lịch; hỗ trợ công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch, bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch. - Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài ở Việt Nam đi du lịch trong nước và nước ngoài; bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch.
- Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư tham gia hoạt động du lịch, mở rộng giao lưu hợp tác giữa du lịch Việt Nam với du lịch khu vực và quốc tế. - Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ nguồn đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự nguyện của các tổ chức, các cá nhân trong nước và nước ngoài. Môi trường du lịch Môi trường du lịch bao gồm môi trường du lịch tự nhiên và môi trường du lịch nhân văn. Bất kỳ hoạt động du lịch nào cũng chỉ diễn ra trong pham vi môi trường du lịch.
Hay nói cách khác, ở đâu có du lịch thì ở đó có môi 15 trường du lịch. Trong khi môi trường tự nhiên đòi hỏi việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên phải gắn liền với việc tôn tạo và giữ gìn môi trường, thì môi trường du lịch nhân văn đòi hỏi phải đảm bảo sự an toàn cho du khách về moi mặt. Một đất nước có nền chính trị ổn định, hòa bình, an ninh xã hội đảm bảo là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch. Bởi lẻ, mỗi khách du lịch trước khi bắt đ ầu một hành trình, họ không chỉ tìm hiểu về các sản phẩm du lịch mà còn quan tâm đến tình hình an ninh, chính trị của quốc gia đó.
16 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THU HÚT KHÁCH DU LỊCH ĐẾN VỚI ĐỒ SƠN GIAI ĐOẠN 2011-2015 2. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội quận Đồ Sơn giai đoạn 2011-2015 2. Phát triển kinh tế Bảng 2.1: Kết quả thực hiện các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của quận Đồ Sơn giai đoạn 2011-2015 Đơn vị: Tỷ đồng, % BQ Chỉ tiêu 2011 2012 2013 2014 2015 2015/2011 1. Tổng giá trị sản xuất 1.018,00 12,62 - Nông, lâm, thuỷ sản 512,26 554 633,95 665,70 692,20 7,81 - Công nghiệp, xây dựng 593,60 698,9 744,3 806,90 901,00 11,00 - Dịch vụ 769,14 1016,1 1148,75 1282,40 1424,80 16,65 2.
Thu ngân sách trên địa bàn 59,50 55,5 56 68,70 78,30 7,11 3. Chi ngân sách theo phân cấp 122,40 168,8 182,9 160,80 166,40 7,91 4. Tổng nguồn vốn đầu tư 985,00 1107,00 1209,00 1.500,00 11,09 toàn XH trên địa bàn (Nguồn: Niên giám thống kê và báo cáo của UBND quận Đồ Sơn) - Về phát triển du lịch, dịch vụ, thương mại Giai đoạn 2011 - 2015, quận Đồ Sơn đã tập trung chỉ đạo, phát huy cao nhất các nguồn lực và tiềm năng, lợi thế cho đầu tư phát triển du lịch - dịch vụ nhanh, bền vững. Du lịch đã trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của quận, bước đầu khẳng định cùng với Cát Bà, Hạ Long, Đồ Sơn trở thành một trong những trung tâm du lịch của cả nước và quốc tế.
Tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành du lịch, dịch vụ đạt khá, các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng hơn (có 5 nhóm sản phẩm chính: du lịch sinh thái biển đảo; du lịch hội thảo, hội nghị; du lịch nghỉ dưỡng, thể thao; du lịch lễ hội và du lịch văn hóa tâm linh), hệ 17 thống hạ tầng phục vụ cho du lịch được nâng cấp, từng bước kết nối được du lịch Đồ Sơn với các địa phương. Số lượt khách du lịch tăng bình quân mỗi năm là 3,1%. Tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành du lịch - dịch vụ tăng bình quân 16,7%/năm.