Chương 1: Cơ sở khoa học của việc dạy học sinh thực hành đọc văn bản thơ trong môn Ngữ văn Chương 2: Nguyên tắc, biện pháp dạy học phần Thực hành đọc văn bản thơ cho học sinh lớp 10 trong môn Ngữ văn Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 11 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC DẠY HỌC SINH THỰC HÀNH ĐỌC VĂN BẢN THƠ TRONG MÔN NGỮ VĂN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm văn bản Theo các nhà kí hiệu học, theo nghĩa rộng nhất, “Văn bản là là bất cứ chuỗi kí hiệu nào có khả năng tiềm tàng có thể đọc ra nghĩa được (. Do đó, một nghi thức, một điệu múa, một nét mặt, bài thơ,.
đều là văn bản” [13, tr. Từ góc độ lí thuyết tiếp nhận, các nhà khoa học phân biệt giữa VB (text) và tác phầm văn học (work, poem). VB (text) là tập hợp những kí hiệu, là một hệ thống ngôn ngữ do nhà văn sáng tạo chờ người đọc đến đọc; hoặc đơn giản chỉ là những vết mực trên trang giấy cho đến khi nó được một người đọc tìm đến và đọc nó (R. Còn tác phẩm (work, poem) là sản phẩm do người đọc tạo dựng, kiến tạo nên (nghĩa và ý nghĩa) từ sự giao tiếp với văn bản [32, tr.
Như vậy, VB vừa là phương tiện giao tiếp, vừa là sản phẩm giao tiếp. VB thơ thuộc VB nghệ thuật với đặc trưng là được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ giàu hình tượng, hàm ngôn, giàu nhịp điệu và giá trị thẩm mĩ. Đọc thơ là quá trình người đọc tự kiến tạo thế giới nghệ thuật sống động trong tâm trí mình từ những đề xuất, gợi ý của văn bản thơ. Khái niệm năng lực Năng lực là một thuật ngữ phổ biến, có rất nhiều cách quan niệm và phát biểu khác nhau.
Theo tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế Thế giới (OECD), 2002, năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể. Theo CT Giáo dục Trung học bang Québec, Canada năm 2004, năng lực là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. 12 Kế thừa nhiều cách phát biểu khác nhau, CT GDPT tổng thể 2018 quan niệm: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” [3, tr.
Trong nghiên cứu đề tài luận văn này, chúng tôi tán thành và sử dụng khái niệm năng lực theo nội hàm định nghĩa của CT GDPT tổng thể của Việt Nam năm 2018. Khái niệm đọc văn và đọc hiểu văn bản Trong 2 thập niên qua, ở Việt Nam, khái niệm Đọc văn và Đọc hiểu văn bản đôi khi được một số nhà khoa học và giáo viên dùng với những cấp độ và hàm nghĩa khác nhau. Đọc văn có khi được dùng để chỉ một phần của môn Ngữ văn (phần Đọc văn, bên cạnh Tiếng Việt và Làm văn), hoặc kĩ năng Đọc (bên cạnh kĩ năng Viết, Nói và Nghe); có khi được dùng để chỉ toàn bộ quá trình đọc – tiếp nhận văn bản; có khi được hiểu như một phương pháp, một kĩ thuật đọc văn (bên cạnh các phương pháp, kĩ thuật như gợi mở, động não, thảo luận, thuyết trình. Khái niệm Đọc hiểu VB cũng được hiểu và sử dụng ở nhiều cấp độ như vậy.
Trong các bản chương trình môn Ngữ văn của nhiều nước, khái niệm Đọc được dùng để chỉ phần Đọc văn trong mối tương quan với các phần Nghe, Nói, Viết hoặc Ứng đáp văn học với những mục tiêu cụ thể rõ ràng. Một số nhà nghiên cứu thì phân biệt giữa đọc hiểu (read with understanding, comprehension reading) là đọc để lấy thông tin - đọc các VB không hư cấu - với đọc ứng đáp (read with responding) - đọc các VB hư cấu, đọc thẩm mĩ; một số khác cũng dùng đọc văn với nội hàm là quá trình tương tác tích cực giữa người đọc và VB để kiến tạo nghĩa VB cho chính mình [32, tr. Trong luận văn này, tùy ngữ cảnh, chúng tôi sử dụng khái niệm đọc văn với hai hàm nghĩa chính: 1) Đọc văn là một phần của môn Ngữ văn, một 13 trong 4 kĩ năng cốt lõi mà môn Ngữ văn có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở HS; 2) Đọc văn là toàn bộ quá trình đọc – tiếp nhận VB, là quá trình người đọc tương tác tích cực với VB để kiến tạo nghĩa tác phẩm cho chính mình; người đọc là một chủ thể năng động, tích cực, độc lập và sáng tạo trong quá trình kiến tạo nghĩa. Và để tránh lặp từ, đôi khi chúng tôi cũng dùng đọc hiểu với các hàm nghĩa tương tự như trên.
Khái quát chung về đặc điểm nghệ thuật của văn bản thơ 1. Khái niệm văn bản thơ Có rất nhiều cách quan niệm và phát biểu khác nhau về thơ. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [11, tr. Theo Giáo trình lí luận văn học, “Thơ ca là sản phẩm của nhận thức, tưởng tượng và sáng tạo, nhờ đó mà ngôn từ được phát triển” [42, tr.
Ở luận văn này, chúng tôi sử dụng quan niệm về thơ theo Sách giáo khoa Ngữ văn 10, bộ Kết nối tri thức và cuộc sống: “Thơ là hình thức tổ chức ngôn từ đặc biệt, tuân theo một mô hình thi luật hoặc nhịp điệu nhất định nhằm làm nổi bật mối quan hệ giữa âm điệu và ý nghĩa của ngôn từ để diễn tả những tình cảm mãnh liệt hoặc ấn tượng, xúc động tinh tế của con người trước thế giới. “Thơ trữ tình là loại tác phẩm thơ thường có dung lượng nhỏ, thể hiện trực tiếp cảm xúc, tâm trạng của nhân vật trữ tình” [17, tr. Đặc điểm nghệ thuật của văn bản thơ Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu lí luận về đặc trưng của thể loại văn bản thơ. Ở luận văn này, chúng tôi chỉ khái quát một số đặc điểm nghệ thuật cơ bản của văn bản thơ.
Trước hết, có thể nói, tính trữ tình là nội dung nổi bật nhất của nội dung thơ. Khác với truyện và tiểu thuyết, thơ không chú trọng miêu tả sự vật bên ngoài, không kể các sự việc xảy ra mà nghiêng về biểu hiện các cảm xúc nội tâm, những tình cảm, cảm nhận của con người trước sự việc, giúp ta hiểu hơn 14 con người chủ thể bên trong. Thơ ca khởi phát từ tâm hồn con người, đó là tiếng nói của tâm hồn, là khúc hát của tình cảm. Lê Quý Đôn khẳng định: “Thơ phát khởi từ lòng người”; Tố Hữu chiêm nghiệm: “Thơ chỉ tràn ra khi trong tim ta cuộc sống đã ứ đầy”; Xuân Diệu nhận xét: “Thơ hay, lời thơ chín đỏ trong cảm xúc”.
Như thế, thơ là sự biểu lộ tình cảm mãnh liệt. Nó đòi hỏi nhà thơ phải có sự rung động mạnh mẽ từ bên trong, sự giày vò, chấn động trong tâm hồn, buộc tác giả phải sống rất sâu vào thế giới nội tâm của mình. “Thiếu tình cảm thì có thể trở thành người thợ làm những câu có vần chứ không làm được nhà thơ”(Jose Martin). Thế giới chủ quan trong thơ không chỉ có tình cảm mà còn cả ý nghĩ, tư tưởng.
Thơ ca còn thâm nhập vào những suy tư thầm kín mang giá trị phổ quát với những kết luận, triết lí về những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con người như sự sống, cái chết, chiến tranh, thời thế, như: Yêu nhau sinh tử cũng liều Thương nhau lội suối qua đèo có nhau (Ca dao) Hay: Sống trong cát chết vùi trong cát Những trái tim như ngọc sáng ngời (Tố Hữu) Do đó, những khái quát trữ tình thường có giá trị phổ quát về lẽ sống, lẽ tồn tại và nhân sinh. Tất nhiên, trong thơ ca không phải chỉ có cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ, mà sự kiện đời sống khách quan luôn là điểm tựa của những cảm xúc và suy nghĩ trữ tình, là cội nguồn không bao giờ cạn để con người trữ tình bộc lộ cảm xúc và suy tưởng. Nếu tách rời những sự kiện đời sống khách quan này thì cảm xúc và ý nghĩ sẽ không có cơ sở hiện thực để nảy sinh, như cánh diều không dây nối liền mặt đất. Sự kiện và hình ảnh đời sống luôn đan xen vào tâm trạng.
Những chi tiết đời sống chân thực bao giờ cũng có khả năng dồn nén sức biểu cảm, khơi gợi tình cảm mãnh liệt, có sức dư ba lớn. Hiện thực 15 khách quan được phản ánh một cách cô đọng trong thơ tự nhiên đã làm tăng sức biểu cảm, tăng sức gợi, một phẩm chất cơ bản của thơ ca. Về nội dung trữ tình, thơ ca không chỉ mang tính cá thể mà còn thể hiện cả những vấn đề mang tính thời đại, mang tính phổ biến và tính thời sự. Thơ trữ tình là tiếng nói riêng tư, nhưng thường tiếng nói riêng tư đó cũng không đi quá xa những nỗi niềm và số phận, những khát khao chung của mọi kiếp người thuộc về một thời đại, một dân tộc cụ thể.
Dù thơ Hồ Xuân Hương có bộc lộ khát vọng hạnh phúc cá nhân, nhưng nó đứng chung trong dàn đồng ca đòi giải phóng con người khỏi mọi hà khắc của chế độ phong kiến, cùng với Nguyễn Du, Phạm Thái, Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều. Vì vậy, nếu thơ ca chỉ đề cập đến những vấn đề cá nhân quá ư nhỏ bé, vụn vặt, sẽ khó đến được trái tim người đọc, và không bao giờ tạo thành những tác phẩm lớn, những tác giả vĩ đại. Như vậy, xét về phương thức phản ánh thế giới, tác phẩm trữ tình tái hiện cuộc sống theo phương thức chủ quan. Do đó nội dung của thế giới trữ tình là sự trình bày trực tiếp thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình.
Về nhân vật trữ tình, nhân vật trong thơ (cũng gọi là chủ thể trữ tình, cái tôi trữ tình) là người trực tiếp bộc lộ rung động và tình cảm trong bài thơ trước một khung cảnh hoặc sự tình. Nhân vật trữ tình không có tên tuổi, tiểu sử, diện mạo, hành động,… nhưng để lại dấu ấn rõ nét qua giọng điệu, cảm xúc, cách tư duy. Nhân vật trữ tình là cái tôi thứ hai của nhà thơ, là người có mối liên hệ mật thiết với tác giả song không hoàn toàn đồng nhất với tác giả [17; tr.