Khóa luận tốt nghiệp biện pháp dạy học đọc hiểu tiếng việt lớp 2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp biện pháp dạy học đọc hiểu tiếng việt lớp 2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Đại học Hùng Vương

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2022

131
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC ĐỌC HIỂU Ở TIỂU HỌC

1.1. Cơ sở lí luận của dạy học đọc hiểu

1.1.1. Một số khái niệm

1.1.2. Bản chất và quá trình dạy học văn bản đọc hiểu

1.1.3. Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học

1.1.4. Những vấn đề chung về phân môn Tập đọc

1.1.5. Chương trình giáo dục phổ thông 2018

1.1.6. Yêu cầu cần đạt về đọc hiểu của chương trình 2018 ở Tiểu học

1.2. Cơ sở thực tiễn của dạy học đọc hiểu

1.2.1. Thực trạng dạy học đọc hiểu tiếng Việt lớp 2 hiện nay

1.2.2. Thực trạng dạy học đọc hiểu lớp 2 bộ sách “Kết nối tri thức với cuộc sống”

1.2.3. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: DẠY HỌC ĐỌC HIỂU CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA BỘ SÁCH KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG

2.1. Các nguyên tắc dạy học đọc hiểu

2.2. Một số biện pháp dạy học đọc hiểu cho học sinh lớp 2

2.2.1. Kết hợp linh hoạt giữa hình ảnh minh họa và phương pháp giảng giải

2.2.2. Sử dụng hiệu quả các phương tiện, đồ dùng dạy học gắn với chủ điểm của sách giáo khoa

2.2.3. Đa dạng hóa các hình thức dạy học

2.2.4. Tổ chức sáng tạo quan điểm dạy học tích hợp

2.2.5. Linh hoạt thay đổi câu hỏi cho phù hợp

2.2.6. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

3.1. Mục đích thực nghiệm

3.2. Đối tượng, thời gian, địa điểm thực nghiệm

3.3. Nội dung thực nghiệm

3.4. Cách tiến hành thực nghiệm

3.5. Kết quả thực nghiệm

3.6. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy đọc hiểu tiếng Việt lớp 2

Chương này tập trung vào việc phân tích cơ sở lý luậnthực tiễn của việc dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 2 theo chương trình giáo dục phổ thông 2018. Các khái niệm cơ bản như văn bản, đọc hiểu được làm rõ, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hình thành kỹ năng đọc hiểu trong giai đoạn đầu của giáo dục tiểu học. Phần này cũng đề cập đến đặc điểm tâm lý của học sinh lớp 2, giúp giáo viên hiểu rõ hơn về cách tiếp cận và phương pháp dạy học phù hợp.

1.1. Khái niệm và bản chất của đọc hiểu

Đọc hiểu được định nghĩa là quá trình nhận thức tích cực, bao gồm việc phân tích, tổng hợp, và liên tưởng để hiểu ý nghĩa của văn bản. Đây là hoạt động không chỉ đòi hỏi kỹ năng ngôn ngữ mà còn cần sự tư duy logic và kinh nghiệm sống. Bản chất của đọc hiểu là quá trình nắm bắt thông tin, từ nghĩa của từ, câu, đoạn đến toàn bộ văn bản, giúp học sinh phát triển năng lực tư duy và khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tế.

1.2. Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 2

Học sinh lớp 2 ở độ tuổi 7-8 có đặc điểm tâm lý đặc trưng như khả năng tập trung ngắn, ham học hỏi, và dễ bị thu hút bởi hình ảnh, màu sắc. Việc hiểu rõ đặc điểm này giúp giáo viên thiết kế các phương pháp dạy học phù hợp, sử dụng tài liệu dạy đọc hiểu sinh động và hấp dẫn để thu hút sự chú ý của học sinh, từ đó nâng cao hiệu quả giảng dạy.

II. Biện pháp dạy đọc hiểu tiếng Việt lớp 2 theo chương trình 2018

Chương này đề xuất các biện pháp dạy đọc hiểu cụ thể dành cho học sinh lớp 2, dựa trên chương trình giáo dục phổ thông 2018. Các biện pháp này bao gồm việc kết hợp linh hoạt giữa hình ảnh minh họa và phương pháp giảng giải, sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học, và đa dạng hóa hình thức dạy học. Mục tiêu là giúp học sinh không chỉ hiểu nội dung văn bản mà còn phát triển kỹ năng đọc hiểu một cách toàn diện.

2.1. Kết hợp hình ảnh minh họa và phương pháp giảng giải

Việc sử dụng hình ảnh minh họa kết hợp với phương pháp giảng giải giúp học sinh dễ dàng hình dung và hiểu sâu hơn nội dung văn bản. Đây là phương pháp hiệu quả để thu hút sự chú ý của học sinh, đặc biệt là với những văn bản có nội dung phức tạp hoặc trừu tượng. Giáo viên cần lựa chọn hình ảnh phù hợp với chủ đề và nội dung bài học để tăng tính trực quan và sinh động.

2.2. Đa dạng hóa hình thức dạy học

Đa dạng hóa hình thức dạy học bao gồm việc sử dụng các hoạt động nhóm, trò chơi học tập, và thảo luận để tạo hứng thú cho học sinh. Cách tiếp cận này không chỉ giúp học sinh hiểu bài tốt hơn mà còn phát triển kỹ năng giao tiếp và hợp tác. Giáo viên cần linh hoạt thay đổi câu hỏi và hoạt động để phù hợp với từng đối tượng học sinh.

III. Thực nghiệm và đánh giá hiệu quả biện pháp dạy đọc hiểu

Chương này trình bày kết quả thực nghiệm sư phạm được tiến hành để đánh giá hiệu quả của các biện pháp dạy đọc hiểu đề xuất. Thực nghiệm được thực hiện trên hai nhóm học sinh: nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Kết quả cho thấy nhóm thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt về kỹ năng đọc hiểu và hứng thú học tập so với nhóm đối chứng. Điều này khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp được đề xuất.

3.1. Thiết kế và quy trình thực nghiệm

Thực nghiệm được thiết kế với hai nhóm học sinh: nhóm thực nghiệm áp dụng các biện pháp dạy đọc hiểu đề xuất, và nhóm đối chứng học theo phương pháp truyền thống. Quy trình thực nghiệm bao gồm các bước chuẩn bị, triển khai, và đánh giá kết quả. Các tiêu chí đánh giá bao gồm mức độ hiểu bài, khả năng vận dụng kiến thức, và hứng thú học tập của học sinh.

3.2. Kết quả và đánh giá

Kết quả thực nghiệm cho thấy nhóm thực nghiệm có sự cải thiện đáng kể về kỹ năng đọc hiểu và hứng thú học tập. Học sinh trong nhóm này không chỉ hiểu sâu hơn nội dung văn bản mà còn biết cách vận dụng kiến thức vào thực tế. Điều này chứng minh rằng các biện pháp dạy đọc hiểu đề xuất có tính ứng dụng cao và phù hợp với chương trình giáo dục phổ thông 2018.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC ĐỌC HIỂU Ở TIỂU HỌC 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA DẠY HỌC ĐỌC HIỂU 1. Một số khái niệm a) Khái niệm văn bản Có thể xem xét một vài quan niệm tiêu biểu: Quan niệm thứ nhất, văn bản là bản viết hoặc in, mang nội dung là những gì cần được ghi để lưu lại làm bằng chứng. Quan niệm thứ hai, văn bản với nghĩa rộng là bản ghi bằng chữ viết hoặc chữ in, một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn từ (phân biệt với việc thực hiện phát ngôn hoặc thông báo bằng nói miệng); với nghĩa hẹp văn bản là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận).

Quan niệm thứ ba, văn bản (text) là sản phẩm của quá trình viết hoặc nói (trong giao tiếp, thông tin), có thể lớn hoặc nhỏ, có cấu trúc, chủ đề, đề tài,v.v… làm thành một đơn vị, như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường…, tồn tại dưới dạng văn tự hoặc được ghi âm; phân biệt với diễn ngôn hiểu như chính “quá trình” tạo ra phẩm vật đó. b) Khái niệm đọc hiểu Đọc hiểu “là hoạt động đọc được diễn ra đồng thời với quá trình nắm bắt thông tin, đọc trong nhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc, để lĩnh hội đích tác động của văn bản. Kết quả của đọc hiểu là người đọc phải lĩnh hội được thông tin, hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu đoạn, bài, văn bản. tức là toàn bộ những gì được đọc” (Dương Thị Hương, 2009).

Định nghĩa này phù hợp với dạy học đọc hiểu ở tiểu học là đi từ nghĩa của bộ phận nhỏ đến hiểu nghĩa chung của văn bản. Nguyễn Thanh Hùng – người nghiên cứu nhiều về ĐH, khi bàn về những khái niệm then chốt về ĐH, cho rằng “… đọc – hiểu là khái niệm bao trùm có nội dung quan trọng trong quá trình dạy học văn”; “Đọc – hiểu là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc – hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực văn của người đọc”. “Đọc hiểu là phạm trù khoa học trong nghiên cứu và giảng dạy văn học. Bản thân nó là khái niệm có quan hệ với năng lực đọc, hoạt động đọc, kĩ năng đọc để nắm vững ý nghĩa của văn bản nghệ thuật ngôn từ.

Đọc chính xác thì hiểu đúng. Đọc kĩ, đọc phân tích thì hiểu sâu. Đọc trải nghiệm thẩm mĩ thì hiểu được vẻ đẹp nhân tình. Đọc sâu, đọc sáng tạo thì hiểu được cái mới” [5].

Tác giả đã đi vào lí giải nội hàm của “hiểu”: “Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của các mối quan hệ đó. Hiểu là bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu tức là phải trả lời được câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Vì sao? Làm như thế nào? Đó là biết và làm trong đọc hiểu… Hiểu là quá trình nhận thức văn bản toàn vẹn” [5].TS Nguyễn Thị Hạnh định nghĩa về đọc hiểu như sau: “Đọc hiểu là một bộ phận của nội dung dạy học tiếng Việt với tư cách là môn học tiếng mẹ đẻ trong trường tiểu học”[6]. Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt có quan hệ mật thiết với nhau, là việc sử dụng bộ mã gồm hai phương diện.

Thứ nhất, đó là quá trình vận động bằng mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh. Quá trình này được gọi là quá trình đọc thành tiếng. Thứ hai, đó là sự vận động của tư tưởng, tình cảm sử dụng bộ mã chữ - nghĩa tức là mối liên hệ giữa con người và ý tưởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu được nội dung những gì được đọc. Quá trình này gọi là quá trình đọc hiểu.

Đọc hiểu là một hoạt động có tính quá trình rất rõ vì nó gồm nhiều hành động được trải qua theo tuyến tính thời gian. Hành động đầu tiên của quá trình đọc hiểu là hành động nhận diện ngôn ngữ của văn bản tức là nhận đủ tín hiệu ngôn ngữ mà người viết dùng để tạo văn bản. Hành động tiếp theo là hành 8 động làm rõ nghĩa của các chuỗi tín hiệu ngôn ngữ. Hành động cuối cùng là hành động hồi đáp lại ý kiến của người viết nêu trong văn bản.

Quá trình hiểu văn bản gồm các bước sau: 1 - Hiểu nghĩa các từ, các ngữ. 3 - Hiểu các khối đoạn, tức là những tập hợp câu dùng để phát biểu một ý chọn vẹn. 4 - Hiểu được cả bài. Bản chất và quá trình dạy học văn bản đọc hiểu Đọc hiểu là hành động nhận thức tích cực.

Nói đến bản chất của bất kỳ sự vật hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội và con người là nói đến đặc tính cốt lõi nhất của chúng để phân biệt ranh giới giữa chúng với những sự vật hiện tượng khác trong thế giới khách quan. Bản chất chỉ ra tính độc đáo, riêng biệt của sự vật hiện tượng để nó là chính nó. Tìm ra được bản chất của sự vật hiện tượng trong thế giới không phải dễ dàng vì chúng đều chịu sự chi phối của các mối quan hệ tương tác nào đó. Nghiên cứu sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ tương tác có quy luật như thế sẽ nhận ra, bản chất của đọc hiểu là một hoạt động của con người trong đó có các hành động thu và phát tín hiệu để hiểu nhau như cách nói của lý thuyết thông tin.

Đọc là lao động cơ bắp diễn ra với luồng mắt theo dõi, lia lướt trên dòng chữ, trang viết, là sự điều tiết của cơ quan phát âm, là toàn bộ cơ thể được trưng thu như tay cầm sách, chân đỡ sức nặng của toàn thân trong thời gian nhất định, vai và cổ điều chỉnh liên tục khoảng cách giữa mắt và sách, ánh sáng trong khi đọc. Ngoài việc sản sinh ra lực, ra công của cơ thể còn có cả sự căng thẳng tinh thần trong khi đọc. Đọc hiểu là quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, liên tưởng ghi nhớ, suy luận diễn ra liên tục trong một khoảng thời gian. Rõ ràng đọc mang bản chất lao động phức tạp, căng thẳng của toàn bộ khả năng vật chất và tinh thần trong khi đọc.

Đọc hiểu là hoạt động có mục đích nhất định tác động vào đối tượng để nhận thức 9 và cải tạo bản thân nên nói đọc là lao động hoàn toàn có lý. Vì vậy người đọc phải tận dụng năng lực tư duy, vốn tri thức và kinh nghiệm sống để hiểu trọn vẹn ý nghĩa không được diễn đạt trực tiếp. Đọc hiểu là quá trình nắm vững ý nghĩa. Đọc là nắm vững được nội dung ý nghĩa của văn bản, dù là nghĩa hiển ngôn hay hàm ẩn.

Không tìm thấy nội dung ý nghĩa trong văn bản thì việc đọc trở thành hư ảo, vô bản chất. Nội dung ý nghĩa của văn bản được người viết thể hiện và gợi ra từ ngôn từ, từ những mối quan hệ thống nhất, chỉnh thể của văn bản và từ suy nghiệm, phát hiện, kiến tạo thêm ở người đọc. Nghĩa và ý nghĩa được gửi gắm và vùi lấp vào trong văn bản và nó có lộ diện hay không còn tùy thuộc vào năng lực người đọc. Rõ ràng đọc là một quá trình cảm nhận, hiểu biết dần ý nghĩa của văn bản [9].

Văn bản có khả năng phân tích ra thành các yếu tố nhỏ hơn, vì vậy trong khi đọc người đọc phải phân tích văn bản trên những gì được người viết triển khai: nghĩa của từ, nghĩa miêu tả, nghĩa tình thái của câu, của đoạn của toàn bài, rồi mới đi đến mục đích thông báo của văn bản. Chính vì vậy, đọc hiểu là một cách đọc phân tích. Quá trình phân tích văn bản trong đọc hiểu diễn ra theo hai cách ngược nhau. Người đọc chọn cách phân tích nào tùy thuộc vào vốn sống, trình độ văn hóa và kỹ năng đọc của mình.

Người đọc có trình độ văn hóa cao, có nhiều kinh nghiệm sống thường chọn cách phân tích đi từ nghĩa chung của văn bản đến nghĩa của từng bộ phận trong văn bản rồi từ đó khái quát lên chủ đề, tư tưởng của văn bản. Trong khi đó, người đọc chưa có vốn kinh nghiệm, vốn sống chưa nhiều thường chọn cách phân tích đi từ nghĩa của bộ phận nhỏ (từ, câu, đoạn) đến nghĩa chung của văn bản. Mặc dù vậy, dù chọn cách phân tích nào thì để hiểu văn bản người ta vẫn phải biết nghĩa của các bộ phận nhỏ trong văn bản và lấy đó làm căn cứ xác định chủ đề của văn bản. Khả năng đọc và vốn sống của học sinh tiểu học còn hạn chế nên về cơ bản, dạy đọc ở tiểu học nên theo cách phân tích văn bản đi từ hiểu nghĩa bộ phận nhỏ đến hiểu nội dung và đích của từng văn bản.

Song trong một số bài tập đọc cần phối hợp dạy theo cả hai cách phân tích nói trên nhằm làm 10 cho học sinh bắt đầu làm quen với kỹ năng quan sát toàn bài để đọc lướt, đọc đoán nghĩa. Lựa chọn văn bản rất quan trọng trong việc thực hiện chương trình dạy đọc. Một bài đọc không thích hợp không những có thể cản trở sự hiểu của học sinh mà còn có thể làm các em mất hứng thú đọc. Đồng thời, không chọn được văn bản thích hợp thì chúng ta cũng không thể hình thành được các kỹ năng đọc.

Đặc điểm tâm lí của học sinh Tiểu học Học sinh Tiểu học phần lớn là những trẻ ở độ tuổi từ 6 đến 11. Đây là lứa tuổi lần đầu tiên đến trường, trở thành học sinh, chuyển từ hoạt động vui chơi là chủ đạo sang hoạt động học tập là chủ đạo. Vì vậy, có thể nói, hoạt động học tập có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng với sự phát triển tâm lí học sinh tiểu học. Lứa tuổi học sinh tiểu học là tuổi của sự phát triển hồn nhiên bằng phương thức lĩnh hội, sống và phát triển trong nền văn minh nhà trường.

Theo các nhà tâm lí học, lứa tuổi học sinh tiểu học chia làm hai giai đoạn: - Giai đoạn đầu cấp (lớp 1, 2, 3) - Giai đoạn cuối cấp (lớp 4, 5). Hai giai đoạn này ở trẻ có sự khác nhau khá rõ rệt về mức độ phát triển tâm lí và trình độ thực hiện hoạt động học tập, nhưng không có sự thay đổi đột biến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Biện Pháp Dạy Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 2 Theo Chương Trình 2018 là tài liệu chuyên sâu về phương pháp giảng dạy đọc hiểu cho học sinh lớp 2, phù hợp với chương trình giáo dục mới. Tài liệu này tập trung vào các kỹ thuật giúp học sinh phát triển kỹ năng đọc hiểu, từ đó nâng cao khả năng tiếp thu và phân tích văn bản. Những biện pháp được đề xuất không chỉ hỗ trợ giáo viên trong việc thiết kế bài giảng hiệu quả mà còn giúp học sinh tự tin hơn trong quá trình học tập. Để mở rộng kiến thức về phương pháp dạy học tiểu học, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học đọc cho học sinh lớp 1 trong giai đoạn học vần, Luận văn thạc sĩ giáo dục học dạy học đọc hiểu văn bản văn học cho học sinh lớp 3 theo hướng phát triển năng lực, và Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học tích hợp dạy viết trong việc dạy học các kỹ năng ngôn ngữ khác cho học sinh lớp 4. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều và chi tiết hơn về các phương pháp giáo dục hiệu quả ở bậc tiểu học.