phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về công tác quản lý chống thất thu thuế GTGT đối với DN NQD. Chƣơng 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý chống thất thu thuế GTGT đối với các DN NQD trên địa bàn TP Hải Phòng từ năm 2012-2016. Chƣơng 3: Một số biện pháp chống thất thu thuế GTGT đối với các DN NQD trên địa bàn TP Hải Phòng. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHỐNG THẤT THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGOÀI QUỐC DOANH 1.
Cơ sở lý luận về công tác quản lý chống thất thu thuế GTGT đối với DN NQD 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Doanh nghiệp NQD Theo Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 có quy định "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh" [7, tr. DN NQD là hình thức DN không thuộc sở hữu của Nhà nƣớc, trừ Hợp tác xã; toàn bộ vốn, lợi nhuận đều thuộc sở hữu tƣ nhân hay tập thể ngƣời lao động; chủ sở hữu hay chủ cơ sở sản xuất kinh doanh chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động sản xuất kinh doanh và toàn quyền quyết định phƣơng thức phân phối lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nƣớc mà không chịu sự chi phối nào từ các quyết định của Nhà nƣớc hay cơ quan quản lý.
DN NQD là một loại hình DN nên nó mang đầy đủ đặc điểm của một DN nhƣ: có con dấu, trụ sở giao dịch ổn định, có tài sản, đƣợc đăng ký kinh doanh. DN NQD có vai trò quan trọng trong nền kinh tế, góp phần làm tăng thu cho NSNN, giải quyết việc làm cho ngƣời lao động. Thuế GTGT Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu. Ở Việt Nam, thuế GTGT đƣợc bắt đầu nghiên cứu từ khi tiến hành cải cách thuế bƣớc 1 (Năm 1990).
Luật thuế GTGT đƣợc Quốc hội khóa IX kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999, thay cho thuế doanh thu trƣớc đây. Kể từ khi bắt đầu áp dụng cho đến nay đã có nhiều sửa đổi bổ sung 6 cho phù hợp với tình hình thực tế. Tại điều 2 Luật thuế GTGT số 13/2008/QH12 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 ngày 03/06/2008 có khái niệm về thuế GTGT: "Thuế GTGT là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng" [6, tr. Đƣợc gọi là thuế GTGT vì thuế chỉ đánh trên phần giá trị tăng thêm qua mỗi khâu của quá trình từ sản xuất đến kinh doanh cuối cùng là tiêu dùng, và tổng số thuế thu đƣợc ở mỗi khâu bằng tổng số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Về bản chất, thuế GTGT do các nhà sản xuất kinh doanh nộp hộ ngƣời tiêu dùng thông qua việc tính gộp thuế này vào giá bán mà ngƣời tiêu dùng phải thanh toán. Do vậy, thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Thuế GTGT là khoản thu quan trọng của NSNN, có tác dụng điều tiết thu nhập của nền kinh tế, khuyến khích xuất khẩu hàng hoá dịch vụ, khuyến khích các tổ chức, cá nhân bỏ vốn đầu tƣ phát triển SXKD, giúp Nhà nƣớc kiểm soát đƣợc hoạt động, sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa nhờ kiểm soát đƣợc hệ thống hóa đơn, chứng từ, khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuế doanh thu là trốn thuế. Thất thu thuế Thất thu thuế đƣợc hiểu là hiện tƣợng trong đó những khoản tiền từ các cá nhân, tổ chức có tiến hành các hoạt động SXKD hay có những điều kiện cơ sở vật chất nhất định so với khả năng của họ cần phải động viên vào NSNN, song vì những lý do xuất phát từ phía Nhà nƣớc hay NNT mà những khoản tiền đó không đƣợc nộp vào NSNN.
Thất thu thuế xảy ra sẽ có ảnh hƣởng rất lớn đến mọi mặt của đất nƣớc nhƣ: - Ảnh hƣởng tới chi tiêu của Nhà nƣớc - Ảnh hƣởng đến việc điều chỉnh, định hƣớng cơ cấu nền kinh tế - Ảnh hƣởng đến mọi mặt xã hội 7 Nhƣ vậy có thể thấy rằng thất thu thuế có ảnh hƣởng nghiêm trọng đến mọi mặt của xã hội, đến sự phát triển bền vững của đất nƣớc. Do vậy chống thất thu thuế là đòi hỏi khách quan của mọi nền kinh tế. Sự cần thiết phải chống thất thu thuế: * Xuất phát từ các DN: Sự tuân thủ pháp luật thuế của DN xuất phát từ nhiều yếu tố trong đó có một số yếu tố chủ yếu sau: - Mức độ tuân thủ thuế của DN nhất là DN NQD phụ thuộc vào sự hiểu biết về luật thuế, những yêu cầu của luật thuế. Nhiều DN không nhận thức đƣợc, hoặc không hiểu đƣợc nghĩa vụ thuế cũng nhƣ quy trình tuân thủ.
Chính điều này làm gia tăng tỷ lệ lỗi trong kê khai thuế và cản trở việc tuân thủ pháp luật thuế của các DN. - Các DN mới thành lập thƣờng thiếu kiến thức về luật thuế, nghĩa vụ thuế và quy trình tuân thủ thuế, các hoạt động trốn thuế, tránh thuế thƣờng thô sơ và dễ bị phát hiện. Ngƣợc lại các DN “có tuổi” thƣờng hiểu rõ về luật thuế và quy trình nộp thuế vì vậy nếu không có chính sách thuế hợp lý, cơ chế ràng buộc chặt chẽ, chế tài xử lý nghiêm thì họ thƣờng sử dụng các biện pháp tinh vi để trốn, tránh thuế. - Yếu tố tâm lý của các DN: Các DN nộp thuế vào NSNN nhƣng khi họ nhận thức rằng việc đóng thuế của họ là không công bằng, nghĩa vụ nộp thuế là không bình đẳng thì họ sẽ tìm mọi cách để làm giảm số thuế phải nộp.
Bên cạnh đó là tâm lý lo lắng về khả năng xảy ra vi phạm pháp luật thuế nhƣ tính toán sai thu nhập chịu thuế, thanh toán không đúng… làm cho họ ngại khi đến cơ quan thuế nộp thuế. - Ngoài ra còn có một số yếu tố khác nhƣ lãi suất thị trƣờng, lãi suất ngân hàng cũng ảnh hƣởng đến quyết định tuân thủ, trì hoãn, hay không tuân thủ nộp thuế. Hay nhƣ tình trạng lạm phát quá cao sẽ ảnh hƣởng tới mức sinh lợi từ hoạt động SXKD, do vậy cũng có thể ảnh hƣởng tới việc tuân thủ nghĩa vụ thuế của DN. 8 Sự vi phạm dù là vô tình hay cố ý đều có ảnh hƣởng xấu đến nhiều khía cạnh của đất nƣớc.
Do đó có thể nói tăng cƣờng công tác chống thất thu thuế đối với các DN đặc biệt là các DN NQD vô cùng cần thiết tăng thu cho NSNN, tạo môi trƣờng cạnh tranh lành mạnh cho các DN cũng nhƣ các thành phần khác trong nền kinh tế, phát huy và nâng cao vai trò điều tiết, định hƣớng kinh tế của Nhà nƣớc, góp phần đƣa chính sách thuế vào cuộc sống để cho các sắc thuế nói chung cũng nhƣ sắc thuế GTGT nói riêng không chỉ là công cụ đắc lực của Nhà nƣớc trong điều tiết nền kinh tế mà còn góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển. * Xuất phát từ tầm quan trọng của thuế GTGT: Ở Việt Nam, thuế GTGT là sắc thuế có đóng góp lớn cho NSNN hàng năm. Vì vậy để đảm bảo chi tiêu của mình, Nhà nƣớc cần phải tăng cƣờng các biện pháp quản lý các loại thuế hiện có nhằm đảm bảo hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng thất thu thuế, nhất là đối với thuế GTGT. Mặt khác sắc thuế này còn là công cụ đắc lực của Nhà nƣớc trong việc quản lý, điều tiết nền kinh tế, thông qua việc ƣu đãi về giãn, giảm thuế, Nhà nƣớc có thể tháo gỡ khó khăn, khuyến khích phát triển kinh tế để từ đó tăng thu cho NSNN.
Ngoài ra, việc quản lý tốt sắc thuế này cũng góp phần đảm bảo sự công bằng giữa các DN trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nƣớc, bên cạnh đó Nhà nƣớc có thể có nguồn tài chính để thực hiện các mục tiêu xã hội của mình. Đặc điểm của công tác quản lý chống thất thu thuế GTGT đối với DN NQD Một là, các DN là nhóm NNT với nhiều loại hình đa dạng nhƣ: Doanh nghiệp tƣ nhân, Công ty Cổ phần, Công ty TNHH, Công ty hợp danh, Hợp tác xã. So với nhiều đối tƣợng nộp thuế khác nhƣ các cá nhân kinh doanh, thuế từ các DN khá tập trung, có số thu lớn, thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nội địa. Do vậy, quản lý thuế đối với DN đƣợc đặc biệt quan tâm và đặt ƣu 9 tiên hàng đầu.
Hầu hết cơ quan Thuế các nƣớc đều rất chú trọng việc quản lý nhóm đối tƣợng nộp thuế này. Thực tế ở Việt Nam qua số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, khối DN luôn đóng góp trên 50% tổng thu NSNN cả nƣớc hàng năm. Hai là, DN là ĐTNT có trình độ tổ chức cao hơn, chặt chẽ hơn các hộ kinh doanh cá thể. Hầu hết các DN thực hiện chế độ kế toán, hoá đơn, chứng từ.
Theo chế độ hiện hành, các DN đều phải mở sổ sách kế toán và hạch toán kế toán theo chế độ quy định, thực hiện nghĩa vụ thuế theo phƣơng pháp kê khai thuế. Ba là, DN có phạm vi kinh doanh rộng hơn và mức độ phức tạp cao hơn so với đối tƣợng là hộ cá thể. Ngày nay, nhiều DN có phạm vi kinh doanh toàn cầu. Vì vậy, việc kiểm soát chi phí và thu nhập khi tính thuế là hết sức phức tạp.
Do đó, quản lý thuế đối với DN đòi hỏi đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nhiều kinh nghiệm. Có nhƣ vậy mới phát hiện đƣợc các thủ thuật trốn thuế, tránh thuế hết sức tinh vi của các đối tƣợng này, từ đó đề xuất hoàn thiện chính sách hoặc xử lý đối tƣợng vi phạm. Mục tiêu và nguyên tắc của công tác quản lý chống thất thu thuế GTGT đối với DN 1. Mục tiêu của công tác quản lý thuế Thuế GTGT là một sắc thuế cơ bản trong hệ thống các sắc thuế ở Việt Nam.
Quản lý thuế GTGT trong nền kinh tế quốc dân nhằm đạt đƣợc mục tiêu cơ bản sau: - Một là, tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời số thu cho NSNN từ các nguồn đối tƣợng trên địa bàn đƣợc giao quản lý, chủ yếu là các DN NQD, trên cơ sở không ngừng nuôi dƣỡng và phát triển nguồn thu. Tăng cƣờng và ổn định số thu của NSNN trong tƣơng lai, công tác quản lý thuế cần chú trọng và duy trì phát triển các cơ sở tạo ra nguồn thu thuế.