Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa tại các đô thị loại một đang tạo ra sức ép to lớn lên quỹ đất nông nghiệp ven đô, đặc biệt là diện tích đất lúa nước. Tại thành phố Đà Nẵng, huyện Hòa Vang là địa bàn ngoại thành duy nhất chiếm diện tích tự nhiên 73.317,20 ha, tương đương khoảng 78% tổng diện tích toàn thành phố. Trong cơ cấu sử dụng đất năm 2017, nhóm đất nông nghiệp của huyện chiếm tỷ lệ áp đảo với 62.865,73 ha, tương ứng 85,74% diện tích tự nhiên. Tuy nhiên, giai đoạn 2012 - 2017 đã chứng kiến sự sụt giảm nhanh chóng của diện tích đất trồng lúa với tổng mức suy giảm lên tới 216,492 ha, phản ánh xu thế chuyển mục đích sử dụng đất ồ ạt sang phục vụ hạ tầng kỹ thuật, khu công nghiệp và phát triển đô thị.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là làm rõ tác động nhiều chiều của việc thu hẹp quỹ đất canh tác lúa đến đời sống và phương thức kiếm sống của các hộ nông dân ven đô. Mục tiêu cụ thể của đề tài tập trung vào việc đánh giá hiện trạng quản lý sử dụng đất, phân tích biến động đất trồng lúa trên địa bàn 11 xã, lượng hóa sự thay đổi các nguồn lực sinh kế và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ huyện Hòa Vang thông qua chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 - 2017 và dữ liệu điều tra sơ cấp thực hiện năm 2018. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng về mức độ tổn thương sinh kế, giúp chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách chuyển đổi nghề nghiệp và kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ chuyển đổi đất nông nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Khung phân tích sinh kế bền vững của Cơ quan Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh năm 2001 và Lý thuyết địa tô kinh tế trong quá trình đô thị hóa. Mô hình sinh kế bền vững tập trung phân tích 5 nguồn vốn then chốt của hộ gia đình bao gồm: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội. Trong bối cảnh quỹ đất canh tác bị thu hồi, vốn tự nhiên suy giảm trực tiếp đòi hỏi hộ gia đình phải chuyển dịch chiến lược sinh kế sang các hoạt động phi nông nghiệp. Trên bình diện toàn cầu, diện tích có khả năng canh tác nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 22,0%, tương đương 3,3 tỷ ha trong tổng số 14,8 tỷ ha đất tự nhiên. Mức bình quân đất canh tác tại Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,1 ha mỗi người, thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình thế giới là 12.000 m2 mỗi người, đòi hỏi chính sách sử dụng đất phải tối ưu hóa giá trị kinh tế và bảo đảm an ninh lương thực.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các khái niệm cốt lõi theo Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Ba khái niệm trung tâm bao gồm: đất chuyên trồng lúa nước canh tác từ hai vụ mỗi năm trở lên, biến động đất đai và tính dễ bị tổn thương của sinh kế nông thôn. Các lý thuyết này cung cấp hệ quy chiếu để phân tích cách thức dòng vốn tài chính từ tiền bồi thường đất đai được chuyển hóa thành các sinh kế mới, cũng như sự tương tác giữa chính sách nhà nước và khả năng thích ứng của người dân.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo thống kê, kiểm kê đất đai giai đoạn 2012 - 2017 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hòa Vang, cùng hệ thống 569 tờ bản đồ địa chính chính quy của 11 đơn vị hành chính cấp xã. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu 60 hộ gia đình bị thu hồi hoặc mất đất trồng lúa trong giai đoạn 2012 - 2017. Phương pháp chọn mẫu phân tầng đại diện được triển khai tại 3 xã tiêu biểu đại diện cho 3 tiểu vùng địa hình: xã Hòa Châu đại diện vùng đồng bằng ven đô, xã Hòa Phong đại diện vùng trung du và xã Hòa Ninh đại diện vùng bán sơn địa miền núi.

Phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp và so sánh chéo được thực hiện trên phần mềm Microsoft Excel. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm lượng hóa chính xác các chỉ tiêu về diện tích đất biến động qua từng năm, tỷ lệ phần trăm chuyển đổi nghề nghiệp, phân bố các nhóm thu nhập và cơ cấu chi tiêu của hộ nông dân trước và sau khi biến động đất. Các biểu số liệu so sánh trực quan giúp nhận diện rõ sự khác biệt mang tính quy luật giữa các nhóm hộ và khu vực địa lý khác nhau.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Hòa Vang có sự phân hóa mạnh mẽ theo loại đất. Tổng diện tích đất nông nghiệp năm 2017 là 62.865,73 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tỷ trọng chi phối với 26.751,30 ha đất rừng đặc dụng và 21.365,09 ha đất rừng sản xuất. Diện tích đất chuyên trồng lúa nước chỉ đạt 3.117,86 ha, chiếm tỷ lệ khiêm tốn 4,95% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn huyện. Quỹ đất lúa phân bố tập trung nhiều nhất tại xã Hòa Tiến với 565,59 ha, tiếp đến là xã Hòa Phong với 497,46 ha và xã Hòa Khương với 432,00 ha.

Thứ hai, tốc độ suy giảm diện tích đất trồng lúa diễn ra liên tục qua 5 năm từ 2012 đến 2017 với tổng diện tích bị thu hẹp là 216,492 ha. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thu hồi đất để triển khai các dự án khu đô thị mới, khu công nghiệp Hòa Cầm, Hòa Khánh mở rộng và hệ thống hạ tầng giao thông như tuyến đường tránh Nam Hải Vân, nâng cấp Quốc lộ 14B và các trục liên xã.

Thứ ba, cơ cấu việc làm và nguồn thu nhập của người dân có sự biến động sâu sắc. Khảo sát 60 hộ dân cho thấy tỷ lệ lao động làm thuần nông giảm mạnh, chuyển dịch sang các ngành nghề xây dựng tự do, thương mại dịch vụ nhỏ lẻ và công nhân xí nghiệp. Mặc dù thu nhập bình quân bằng tiền mặt sau khi chuyển đổi nghề nghiệp có sự gia tăng từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng mỗi lao động mỗi tháng, nhưng hơn 80% lao động trên 45 tuổi gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm ổn định, đối mặt với rủi ro thất nghiệp cao do không có chứng chỉ nghề.

Thảo luận kết quả

Sự biến động giảm 216,492 ha đất lúa tại Hòa Vang phản ánh quy luật chuyển dịch cấu trúc kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ của một đô thị đang mở rộng nhanh như Đà Nẵng. Kết quả này tương đồng với các công trình nghiên cứu trước đây tại Thừa Thiên Huế và Quảng Nam, khẳng định quá trình đô thị hóa dàn trải theo chiều rộng luôn tạo ra áp lực lớn đối với đất đai ngoại vi. Tuy nhiên, tính chất bền vững trong sinh kế của người nông dân Hòa Vang còn rất thấp. Tiền đền bù giải tỏa chủ yếu được sử dụng để xây dựng nhà ở kiên cố hoặc tiêu dùng ngắn hạn, trong khi tỷ lệ tái đầu tư vào sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ.

Trong nghiên cứu, hệ thống dữ liệu được trực quan hóa thông qua biểu đồ cơ cấu sử dụng đất năm 2017 và bảng so sánh biến động đất đai 11 xã giai đoạn 2012 - 2017. Sự phân bổ lao động được thể hiện rõ nét qua biểu đồ hình tròn về cơ cấu việc làm trước và sau khi mất đất, làm nổi bật sự thu hẹp của khu vực sản xuất lúa và sự gia tăng của nhóm lao động phi chính thức. Điều này chứng minh rằng tăng trưởng thu nhập danh nghĩa chưa đồng nghĩa với việc nâng cao mức độ an toàn sinh kế nếu thiếu hệ thống lưới an sinh xã hội bổ trợ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và khoanh vùng bảo vệ nghiêm ngặt diện tích đất chuyên trồng lúa nước còn lại. Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng cần hoàn thiện việc cắm mốc ranh giới cho 3.117,86 ha đất lúa năng suất cao tại các xã trọng điểm như Hòa Tiến, Hòa Phong và Hòa Khương. Đặt mục tiêu duy trì ổn định diện tích tối thiểu 3.000 ha đất canh tác lúa chất lượng cao đến năm 2025, hạn chế tối đa việc phê duyệt các dự án phi nông nghiệp phân tán, manh mún.

Thứ hai, hiện đại hóa hạ tầng nông nghiệp và nhân rộng mô hình thâm canh công nghệ cao. Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hòa Vang cần chủ trì triển khai kiên cố hóa 19,6 km kênh mương nội đồng, duy trì an toàn vận hành cho 18 hồ chứa nước trên địa bàn trong giai đoạn 2020 - 2023. Đồng thời, mở rộng vùng sản xuất rau an toàn chuyên canh từ 37 ha hiện nay lên 60 ha tại Túy Loan và Cẩm Nê, thúc đẩy chuỗi giá trị nông sản sạch phục vụ nhu cầu nội thành Đà Nẵng.

Thứ ba, đổi mới chương trình đào tạo nghề gắn liền với nhu cầu tuyển dụng thực tế. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Hòa Vang phối hợp với Ban quản lý các Khu công nghiệp Hòa Cầm, Liên Chiểu tổ chức đào tạo nghề kỹ thuật ngắn hạn cho khoảng 1.500 lượt lao động bị mất đất mỗi năm trong giai đoạn 2020 - 2025. Cần thiết kế các khóa tập huấn chuyển đổi nghề phù hợp cho nhóm lao động trung niên, tập trung vào các ngành nghề dịch vụ du lịch sinh thái, chế biến thực phẩm và tiểu thủ công nghiệp truyền thống như bánh tráng Túy Loan, chiếu Cẩm Nê.

Thứ tư, thiết lập gói tín dụng ưu đãi và quỹ hỗ trợ chuyển đổi sinh kế bền vững. Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh huyện Hòa Vang cần mở rộng hạn mức cho vay vốn ưu đãi, cam kết tiếp cận 100% hộ dân thuộc diện thu hồi đất có phương án sản xuất kinh doanh khả thi. Thời gian triển khai liên tục từ năm 2021 đến 2025 nhằm hỗ trợ nông dân khởi nghiệp mô hình kinh tế trang trại kết hợp dịch vụ trải nghiệm nông nghiệp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện. Luận văn cung cấp bức tranh chi tiết về hiện trạng 73.317,20 ha đất tự nhiên cùng các tồn tại trong quản lý hồ sơ địa chính, phục vụ trực tiếp cho công tác lập quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2021 - 2030 và hạn chế tình trạng quy hoạch treo.

Thứ hai, các nhà hoạch định chính sách lao động và an sinh xã hội địa phương. Dữ liệu phân tích từ 60 hộ gia đình mất đất là tài liệu thực chứng quan trọng để xây dựng các đề án giải quyết việc làm cho hơn 12.000 lượt lao động nông thôn, giúp thiết kế chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề sát với năng lực thực tế của người dân.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên môi trường và Kinh tế phát triển. Đề tài đóng vai trò là một case study điển hình về việc ứng dụng Khung sinh kế bền vững kết hợp phân tích thống kê địa chính, cung cấp phương pháp luận chuẩn xác cho các nghiên cứu tương tự tại các vùng ven đô trên toàn quốc.

Thứ tư, các chủ đầu tư dự án khu công nghiệp, khu đô thị và hạ tầng giao thông. Doanh nghiệp có thể nắm bắt tâm tư, nguyện vọng và cơ cấu nguồn lực của người dân địa phương, từ đó xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư công bằng, tạo sự đồng thuận cao và đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng.

Câu hỏi thường gặp

Biến động diện tích đất trồng lúa tại huyện Hòa Vang trong giai đoạn 2012 - 2017 diễn biến như thế nào? Diện tích đất trồng lúa của huyện đã giảm liên tục 216,492 ha trong 5 năm, từ mức hơn 3.334 ha năm 2012 xuống còn 3.117,86 ha vào năm 2017, chỉ còn chiếm 4,95% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn huyện. Xu hướng suy giảm này xảy ra chủ yếu do quá trình thu hồi đất phục vụ các dự án hạ tầng giao thông và khu đô thị mới.

Sau khi bị thu hồi đất lúa, thu nhập và công việc của nông dân thay đổi ra sao? Phần lớn người dân chuyển dịch sang các công việc phi nông nghiệp như công nhân xây dựng, thợ nề, kinh doanh buôn bán nhỏ hoặc làm việc tại các nhà máy thuộc Khu công nghiệp Hòa Cầm, Hòa Khánh. Mặc dù mức thu nhập danh nghĩa tăng từ 1,5 đến 2,5 triệu đồng mỗi tháng, nhưng công việc thiếu tính ổn định và tiềm ẩn nhiều rủi ro khi tuổi lao động tăng cao.

Khung sinh kế bền vững được ứng dụng như thế nào trong phân tích thực trạng tại Hòa Vang? Khung sinh kế bền vững giúp lượng hóa sự thay đổi của 5 nguồn vốn sinh kế ở 60 hộ khảo sát. Kết quả chỉ ra khi vốn tự nhiên bị mất đi, nguồn vốn tài chính ngắn hạn từ tiền đền bù không đủ duy trì đời sống lâu dài do vốn con người về trình độ tay nghề kỹ thuật còn hạn chế, đòi hỏi phải có chính sách hỗ trợ đào tạo chuyên sâu.

Xã nào tại huyện Hòa Vang tập trung diện tích đất chuyên trồng lúa lớn nhất hiện nay? Xã Hòa Tiến là địa phương có diện tích đất chuyên trồng lúa nước lớn nhất huyện với 565,59 ha, tiếp theo sau là xã Hòa Phong với 497,46 ha và xã Hòa Khương với 432,00 ha. Đây là 3 vùng đồng bằng trọng điểm đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo an ninh lương thực và phát triển nông nghiệp hàng hóa của huyện.

Những khó khăn lớn nhất trong công tác quản lý nhà nước về đất đai tại địa bàn là gì? Tồn tại lớn nhất là sự chồng chéo trong các văn bản quy hoạch, tiến độ chỉnh lý hồ sơ địa chính trên 569 tờ bản đồ còn chậm so với tốc độ đô thị hóa thực tế, cùng với tình trạng khiếu nại về giá bồi thường đất nông nghiệp chưa tương xứng với giá trị thị trường, gây khó khăn cho công tác quản lý mặt bằng.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ thực trạng biến động giảm 216,492 ha đất trồng lúa tại huyện Hòa Vang giai đoạn 2012 - 2017 dưới sức ép mạnh mẽ của quá trình đô thị hóa thành phố Đà Nẵng.
  • Kết quả khảo sát 60 hộ dân khẳng định tính hai mặt của việc chuyển đổi đất đai: thu nhập bằng tiền mặt có cải thiện nhưng tính bền vững và mức độ an toàn sinh kế của người nông dân suy giảm đáng kể.
  • Đề tài đóng góp cơ sở dữ liệu định lượng giá trị về cơ cấu 62.865,73 ha đất nông nghiệp và 3.117,86 ha đất lúa nước, phục vụ trực tiếp cho công tác quản lý nhà nước tại địa phương.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về quy hoạch, thủy lợi, đào tạo nghề và tín dụng ưu đãi được đề xuất với lộ trình cụ thể từ năm 2020 đến 2025 nhằm ổn định sinh kế nông hộ.
  • Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu cần tiếp tục ứng dụng các phát hiện từ luận văn để hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ đào tạo nghề thực chất, thúc đẩy tiến trình đô thị hóa hài hòa và bền vững.