phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 02 chương, 05 tiết. -9- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHƢƠNG 1 QUÁ TRÌNH DU NHẬP, PHÁT TRIỂN CỦA ĐẠO TIN LÀNH TRONG CỘNG ĐỒNG NGƢỜI MÔNG Ở TỈNH LÀO CAI 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Tộc người Dân tộc (nation) và tộc người (ethnie) là những khái niệm có mối liên hệ mật thiết với nhau, tuy thống nhất mà không đồng nhất, giữa chúng có những điểm khác biệt cần nhận rõ.
Theo tác giả, có thể rút ra định nghĩa dân tộc như sau: Thứ nhất, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia (nation), hay đất nước, tổ quốc. Quốc gia dân tộc cũng có hai loại: quốc gia chỉ bao gồm một tộc người và quốc gia có nhiều tộc người gồm một tộc người đa số và nhiều tộc người thiểu số như hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay. Trước tiên là, dân tộc hình thành trong lịch sử, ổn định, có chung một tiếng nói, một lãnh thổ, cùng chung một vận mệnh lịch sử, có những lợi ích chung (về kinh tế, chính trị), có chung nền văn hóa (thể hiện trong phong tục tập quán, tín ngưỡng, tâm lý, lối sống, văn học dân gian), đặc biệt cùng chung một ý thức tự giác dân tộc. Thứ hai là dân tộc bao gồm nhiều tộc người đa số và tộc người thiểu số hình thành trong lịch sử, ổn định trong điều kiện đa ngôn ngữ, thường lấy ngôn ngữ của tộc người đa số làm ngôn ngữ quốc gia, đồng thời có chung một lãnh thổ (lãnh thổ quốc gia – dân tộc), cùng chung một vận mệnh lịch sử quốc gia dân tộc, gắn bó vận mệnh các tộc người riêng với vận mệnh chung của quốc gia dân tộc, cùng chung lợi ích về chính trị, kinh tế, một nền văn hóa thống nhất vừa đa dạng của quốc gia đa tộc người.
Thứ hai, dân tộc được hiểu theo nghĩa tộc người hay còn gọi là cộng đồng tộc người (ethnie). Tộc người thường được dùng như khái niệm công cụ - 10 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của các ngành dân tộc học, nhân chủng học, xã hội học, văn hóa học, lịch sử,… Ví dụ, khi nói đến dân tộc Kinh, dân tộc Mường, dân tộc Thái, dân tộc Tày,. là để chỉ một cộng đồng tộc người có thể là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) được liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa và nhất là có một ý thức tự giác tộc người. Về mặt lịch sử, cộng đồng tộc người phát triển từ thị tộc, bộ lạc và mang đầy đủ những đặc trưng trong cộng đồng dân tộc.
Do đó, những nhân tố tộc người xuất hiện do những đặc điểm tự nhiên, xã hội đặc thù của từng cộng đồng người và được tái tạo, sàng lọc, lưu truyền từ thời kỳ thị tộc, bộ lạc và phát triển đầy đủ hơn ở cộng đồng dân tộc. Nó trở thành giá trị bền vững ngay cả trong thời đại mà giao lưu quốc tế giữa các dân tộc đã phát triển. Nhân tố tộc người biểu hiện nổi bật nhất trong văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tâm lí và tình cảm dân tộc, tạo thành nét riêng trong tính cách của mỗi tộc người. Đó là lĩnh vực phong phú, sâu sắc, tế nhị và rất nhạy cảm trong thế giới tinh thần của dân cư mỗi tộc người.
Vì thế, ở nhiều nước, người ta căn cứ vào tiêu chí ngôn ngữ, văn hoá, ý thức tự giác tộc người để xác định thành phần tộc người của một người, một nhóm người. Trong luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm dân tộc theo nghĩa tộc người. Văn hóa Văn hoá là phạm trù có nội dung rộng và phức tạp, nên cho đến hiện nay vẫn còn rất nhiều quan niệm khác nhau. Văn hóa (Culture) theo tiếng La tinh có nghĩa là trồng trọt, chỉ sự chăm sóc, canh tác.
Ở phương Đông, với Văn là kiến thức, Hóa là biến đối, giáo hóa, văn hóa là quá trình biến đổi nhận thức, bao gồm những sáng tạo của đời sống tinh thần của con người. Theo tổ chức UNESCO: “Văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm, quyết định tính - 11 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng”. [55 tr 143] Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lí. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân. Hồ Chí Minh quan niệm: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật và những công cụ sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [13, tr. Văn hoá là phạm trù Người, nó chỉ toàn bộ đời sống con người trong quan hệ giữa chính mình với thế giới bên ngoài, ở đó kết tinh toàn bộ giá trị, phương thức sống, năng lực hoạt động và trình độ phát triển của con người. Theo đó, cấu trúc văn hoá bao trùm toàn bộ các mặt của đời sống con người. Đó là, toàn bộ các giá trị - sản phẩm vật chất, tinh thần do loài người sáng tạo ra; trình độ hoạt động thực tiễn của con người; trình độ phát triển chính bản thân con người - trình độ làm người.
Tiếp cận ở góc độ giá trị, văn hóa được quan niệm là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá - 12 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Theo đó, văn hoá phải là các giá trị; những giá trị đó phải do con người sáng tạo ra (phân biệt với cái tự nhiên); sự sáng tạo đó là một quá trình lịch sử liên tục; và những giá trị đó phải làm thành một hệ thống chặt chẽ. Cấu trúc của hệ thống văn hoá bao gồm 4 thành tố: văn hoá nhận thức; văn hoá tổ chức cộng đồng; văn hoá ứng xử với môi trường tự nhiên; và văn hoá ứng xử với môi trường xã hội. Văn hoá chính là sự ứng xử của con người với con người, con người với tự nhiên mang tính sáng tạo và nhân văn, hướng tới các giá trị chân thiện mỹ.
Từ đó, có thể quan niệm: Văn hoá là một tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra; là trình độ hoạt động thực tiễn của con người trong cải tạo tự nhiên - xã hôi theo các giá trị chân - thiện - mỹ; là trình độ phát triển của chính bản thân con người - trình độ làm người của một cá nhân, một cộng đồng người. văn hoá vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển xã hội. Văn hóa tộc người và biến đổi văn hóa tộc người Văn hóa tộc người: Văn hoá tộc người là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để phân định tộc người bởi nó có chức năng tộc người. Văn hoá tộc người là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, tâm lý, tình cảm, phong tục tập quán… để người ta phân biệt tộc người này với tộc người khác.
Văn hoá tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người. Một tộc người bị đồng hoá, bị mất bản sắc văn hoá riêng thì ý thức tộc người sẽ mai một dẫn đến tộc người bị diệt vong. Văn hoá tộc người là tổng thể các yếu tố văn hoá mang tính đặc trưng và đặc thù tộc người, thực hiện chức năng cố kết cộng đồng tộc người và phân biệt tộc người. - 13 - TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đặc trưng văn hoá tộc người thể hiện trên toàn bộ đời sống xã hội từ ngôn ngữ, trang phục, tôn giáo tín ngưỡng, văn hoá dân gian, tri thức về tự nhiên, xã hội, con người, tri thức sản xuất, tâm lý và tính cách dân tộc, phong tục tập quán cho đến nhà cửa, ăn uống… Sự tổng hoà các đặc trưng sinh hoạt văn hoá trong mối liên hệ giữa chúng tạo thành truyền thống văn hoá tộc người.
Truyền thống văn hoá tộc người hình thành trong quá trình lịch sử tộc người được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Mỗi một tộc người do chịu sự chế ước của các nhân tố tự nhiên như địa hình cư trú, khí hậu, thời tiết, tài nguyên thiên nhiên khác nhau và các nhân tố xã hội lịch sử như quan hệ tộc người, dân tộc, vận mệnh tộc người, dân tộc khác nhau, nên đã tạo ra sự lựa chọn phương thức ứng xử khác nhau đối với môi trường tự nhiên - xã hội. Sự hình thành và phát triển phương thức ứng xử ấy trong quá trình lịch sử đã tạo nên trình độ hoạt động thực tiễn của tộc người; trình độ phát triển toàn diện của chính bản thân tộc người và trở thành tập quán, nếp sống, bản sắc tộc người. Tổng hoà phương thức ứng xử đó tạo nên văn hoá tộc người.
Văn hoá tộc người chính là phương thức ứng xử của tộc người đó trước tự nhiên, xã hội mang tính sáng tạo, nhân văn hướng tới giá trị chân - thiện - mỹ. Như vậy, văn hóa tộc người là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần mà tộc người đó đã sáng tạo ra phản ánh trình độ và kết quả quá trình hoạt động thực tiễn của tộc người, sự giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các tộc người, quốc gia dân tộc nhất định, đã trở thành truyền thống, nếp sống, phong tục tập quán của tộc người và các bộ phận cư dân, khắc họa nên bản sắc của tộc người.