phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, có kết cấuchủ yếu gồm 2 chương, 4 tiết. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 QUAN NIỆM VỀ NGHI LỄ HẦU ĐỒNG VÀ NGHI LỄ HẦU ĐỒNG TRONG TÍN NGƢỠNG THỜ MẪU Ở HẢI DƢƠNG HIỆN NAY 1. Quan niệm về nghi lễ hầu đồng trong tín ngƣỡng thờ Mẫu 1. Khái niệm “Tín ngưỡng thờ Mẫu” và “nghi lễ hầu đồng” 1.
Khái niệm “Tín ngưỡng thờ Mẫu” Tín ngưỡng thờ Mẫu là một khái niệm tương đối phức tạp, với nhiều quan niệm khác nhau và tác giả tổng hợp một số quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất: Xét tín ngưỡng này trong quan hệ với đời sống tinh thần, thì tín ngưỡng thờ Mẫu là tín ngưỡng dân gian (bản địa), hình thành trên cái nền chung là thờ nữ thần, một đặc trưng cơ bản của tín ngưỡng cư dân nông nghiệp. Song tín ngưỡng thờ Mẫu không phải là một hình thức tín ngưỡng đơn nhất, mà là một phức hợp của các tín ngưỡng suy tôn quyền năng sinh tồn, sáng tạo của người mẹ, phát triển từ các hình thức sơ khai thờ nữ thần đến thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ. Thờ Mẫu là hiện tượng phổ quát của các dân tộc Việt Nam và Đông Nam Á. Theo tác giả Nguyễn Hữu Thông, tín ngưỡng thờ Mẫu tuy chịu nhiều ảnh hưởng của các tôn giáo chính thống như Nho, Phật, Lão nhưng các giáo này đều bị dân gian hóa rồi bồi đắp vào tòa điện Mẫu.
Vậy: “Hình tượng Mẫu hoàn toàn là sản phẩm của loại hình tín ngưỡng dân gian chứ không phải là tôn giáo chính thống. Xu hướng biến Mẫu thành tôn giáo chính thống như hiện nay của một số cá nhân là việc làm trái quy luật, không đúng với tiến trình phát triển” [42, tr. Cũng vậy theo GS.Đinh Gia Khánh: “Thờ Mẫu là một tín ngưỡng có nguồn gốc dân gian, một tín ngưỡng bản địa, khác với các tôn giáo phổ quát “ [20, tr. Quan điểm thứ hai: Xét từ góc độ biện chứng phát triển, tínngưỡng thờ Mẫu đang trong quá trình chuyển biến từ một hình thức tín ngưỡng bản địa có 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tính sơ khai, tản mạn, đã và đang chuyển hóa để trở thành một tôn giáo sơ khai.
Nó tiếp thu ảnh hưởng của Đạo giáo, như vũ trụ luận, một số vị thần, nghi thức thờ cúng… để dần dần hình thành một thứ Đạo Mẫu mang tính hệ thống hơn như ngày nay. Bởi vậy, tác giả Đặng Văn Lung viết: “Đạo Mẫu là một thứ tôn giáo chứ không còn là một tín ngưỡng, kiểu như thờ cúng tổ tiên trong gia đình hay thờ cúng các anh hùng dân tộc tại một số đền riêng lẻ. Đạo Mẫu đã có những hoạt động mang tính đặc trưng tôn giáo” [28, tr. Cũng vậy, có nhiều tác giả cho rằng: “Về phương diện điện thần của Đạo Mẫu ta thấy bước đầu đã được hệ thống hóa, tiến từ đa thần của tín ngưỡng nguyên thủy đến thần điện của tôn giáo mà Mẫu giữ vị trí trung tâm như Đức Phật hay Chúa Giêsu” [38, tr.
Đó là một hệ thống thần điện tương đối hoàn chỉnh.Các vị thần được phân chia thành các Phủ, các hạng (bậc) từ trên xuống dưới, nhưng đều quy về vị thần chủ cao nhất là Thánh Mẫu.Qua hệ thống thờ cúng, truyền thuyết và thần tích, các bài cúng ta thấy hé lộ ý niệm vũ trụ luận và ý thức nhân sinh. Đó là một vũ trụ luận nhất nguyên - nguyên lý Mẹ (Mẫu), nhưng lưỡng cực (Âm - Dương, Mẹ - Cha) được phân chia thành các Phủ (Thiên phủ, Địa phủ, Thoải phủ, Nhạc phủ) do các thánh Mẫu cai quản. Đó là một ý thức xã hội, nhân sinh hướng về cội nguồn mà Mẫu (Mẹ) là biểu tượng trung tâm, một ý thức yêu nước, gắn bó với dân tộc, ý thức về một đời sống thực thường nhật với các nhu cầu, mong ước về sức khỏe và tài lộc…, bước đầu nó đã vượt lên trên tính phân tán, tùy tiện mà hình thành một hệ thống cơ sở thờ tự và lễ hội, các nghi thức cúng lễ được quy chuẩn khá chặt chẽ, trong đó tiêu biểu là nghi thức hầu bóng. Một tín ngưỡng đã bước đầu hình thành một cộng đồng các tín đồ (đệ tử) với các thứ bậc khác nhau: Đồng đền, ông đồng, bà đồng, con nhang, đệ tử… phổ biến trong các tầng lớp xã hội khác nhau.
Thậm chí ở Huế và Miền Nam trước giải phóng năm 1975 nhiều địa phương đã hình thành một thứ tổ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chức gần như giáo hội như: Tiên Thiên Thánh Mẫu giáo ở Huế, Đắk Lắk… có trụ sở, có quy định tổ chức sinh hoạt,… Vậy theo quan điểm này, tín ngưỡng thờ Mẫu đến nay đã phát triển không dừng lại ở mức đồng nhất người với tự nhiên, thần linh, ma quỷ trong xã hội sơ khai, mà đã đạt tới sự chiêm tưởng, cầu nguyện thần linh đầy quyền năng cứu giúp con người khỏi rủi ro, bệnh tật, đạt tới Phúc, Lộc, Thọ. Quan điểm thứ ba: Xét tín ngưỡng Mẫu là văn hóa đạo đức, thì thờ Mẫu là một “Đạo” nhưng “Đạo” là con đường, cách thức chứ không theo nghĩa tôn giáo. Nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đăng Dung khẳng định: “Ở đây cũng vẫn hiểu đạo thờ Mẫu chưa phải là tôn giáo vì nó không có tín điều giáo lý, giáo chủ, đạo là con đường, là cách theo” Một số người khác vẫn gọi đạo Mẫu, nhưng cũng không xem nó là một tôn giáo như Đạo Kitô, Đạo Phật, Đạo Islam… mà hiểu như đạo làm con, đạo làm người, đạo hiếu… Tác giả Ngô Đức Thịnh viết: “Trong công trình này, đây đó chúng tôi sử dụng thuật ngữ “đạo” như Đạo Mẫu, Đạo tổ tiên… khái niệm đạo ở đây theo ý nghĩa là con đường, cách thức đưa con người đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng, siêu nhiên” [40, tr.Vậy quan điểm cũng xem tín ngưỡng thờ Mẫu chỉ là một loại hình tín ngưỡng dân gian. Quan điểm thứ tư: Xét từ góc độ văn hóa, tín ngưỡng thờ Mẫu là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể.
Tín ngưỡng thờ Mẫu với các thần tích, điện thần, nghi lễ… là nhân tố hạt nhân, từ đó nảy sinh và tích hợp nhiều hiện tượng văn hóa, tạo thành một hiện tượng văn hóa tín ngưỡng tổng thể.Tín ngưỡng này đã nảy sinh hệ thống huyền thoại, truyền thuyết, thần tích, các bài chầu văn, các truyện thơ nôm về Mẫu, các bài giáng bút, các câu đối, đại tự là nguồn cảm hứng sáng tác cho các nhà thơ, nhà văn, tạo nên một hiện tượng văn học trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu còn có kiến trúc thờ tự mang bản sắc dân tộc, các hệ thống tranh và tượng thờ thấm đẫm phong cách dân gian, các quan niệm về 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com màu sắc tương ứng với các phủ, các hình thức trang trí, trang phục trong lễ nghi và lễ hội…Nó còn nảy sinh các hình thức diễn xướng dân gian độc đáo là âm nhạc và hát chầu văn, hình thức hát bóng, múa bóng… tạo nên một mảng nghệ thuật tạo hình của tín ngưỡng thờ Mẫu. Tín ngưỡng thờ Mẫu còn có lễ hội với các nghi thức, tập tục mang sắc thái trong bức tranh chung lễ hội “Xuân thu nhị kỳ” của Việt Nam. Nó cũng hình thành nên ý thức cộng đồng, các sắc thái tâm lý mang tính đặc thù của những con nhang, đệ tử, tín đồ; các chuẩn mực ứng xử, giao tiếp, hun đúc và củng cố ý thức cội nguồn, làm bền vững khối đại đoàn kết dân tộc.
Quan điểm thứ năm: Xét dưới góc độ đời sống xã hội, tín ngưỡng thờ Mẫu là một sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa mang tính cộng đồng cao. Bởi vì theo quan niệm dân gian, Mẫu là biểu trưng cho sức mạnh, quyền năng sáng tạo, che chở cho chúng sinh khỏi bệnh dịch, rủi ro, mưu cầu hạnh phúc, tài lộc, sức khỏe cho mọi người. Biểu tượng và niềm tin vào biểu tượng đó từ lâu đã tập hợp thành một cộng đồng đông đảo từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi đến miền núi và đâu đâu cũng có đền phủ, điện thờ Mẫu. Vào ngày mùng một và rằm người ta đến đó để khấn cầu; vào dịp “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ” người ta tập hợp đông đảo để mở hội.
Với các đền phủ có tiếng, như phủ Dầy, phủ Tây Hồ, điện Hòn Chén, đền Bà Chúa Xứ… có hàng chục vạn người đến hành hương, cúng lễ, vượt qua nhiều lần số ông đồng, bà đồng, con nhang, đệ tử. Sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa cộng đồng ấy không thua kém gì cộng đồng Đạo Phật, Đạo Kitô. Những sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa đóăn sâu vào tâm thức quần chúng, trở thành một nhu cầu không thể thiếu của đời sống văn hóa tâm linh. Từ những quan điểm khác nhau như trên, tác giả bước đầu đưa ra những nhận định về tín ngưỡng thờ Mẫu như sau: Một là, Mẫu là danh từ được hiểu là mẹ, hay mụ, mế, mạ,.
với nghĩa chỉ người phụ nữ đã sinh thành ra một người nào đó. Bởi vậy, Mẫu có thể 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com được hiểu theo nghĩa rộng hơn, đó là sự tôn vinh, tôn xưng một nhân vật nữ có, hoặc không có thật, như Mẫu Âu Cơ, Mẫu Liễu Hạnh,…Hoặc Mẫu còn được dùng chỉ sự sinh sôi nảy nở không ngừng của vạn vật như những danh xưng Mẹ cây, Mẹ lúa, Mẹ nước, Mẹ xứ sở, Mẹ đất… Hai là, tín ngưỡng thờ Mẫu là một tín ngưỡng dân gian được tích hợp bởi các lớp tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẫu thần, thờ Tam phủ - Tứ phủ với niềm tin thiêng liêng vào quyền năng của Mẫu - đấng sáng tạo, bảo trợ cho sự tồn tại và sinh thành của tự nhiên, xã hội và con người. Ba là, trong tín ngưỡng này, thờ Nữ thần là lớp thờ xuất hiện sớm nhất, với đối tượng thờ là các vị thần có tính nữ. Nữ thần được thờ có thể là thần tự nhiên, như thần Mây, thần Mưa, Mẹ lúa, Mẹ cá;cũng có thể là nhân thần (có thể là huyền thoại), như Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Âu Cơ, Mẫu Ỷ Lan… Bốn là, trong tín ngưỡng này, thờ Mẫu thần là lớp thờ xuất hiện muộn hơn lớp nữ thần, với đối tượng thờ là các vị thần tính nữ, nhưng được dân gian tôn xưng là Mẫu thần.
Vậy thờ Mẫu thần được phát triển từ thờ Nữ thần. Năm là, nếu thờ Mẫu thần được phát triển trên nền tảng thờ Nữ thần thì tín ngưỡng Tam phủ - Tứ phủ, ra đời vào thế kỷ XVI, có thể được coi là bước phát triển cao hơn từ thờ Nữ thần.