Chương 1. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÔNG GIAN KIẾN TRÚC LÀNG DÂN TỘC CƠ TU TỈNH QUẢNG NAM 1. Tổng quan về biến đổi KGKT làng DTTS trên thế giới và Việt Nam 1. Biến đổi KGKT làng DTTS trên thế giới Toàn thế giới ước tính có khoảng 300-400 triệu người DTTS, chiếm khoảng 5% dân số toàn cầu.
Theo Nhóm công tác quốc tế về các vấn đề bản địa (IWGIA 2008), khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc chiếm gần một nửa tổng số DTTS toàn cầu, trong đó Đông Nam Á có 29,84 triệu, Trung Quốc có khoảng 113 triệu người DTTS, Ấn Độ có khoảng 104 triệu người. [76] [97] Các làng DTTS thường gắn với vùng cao, vùng xa, có vị trí địa lý không thuận lợi, nền kinh tế và mức sống kém phát triển. Tuy nhiên, khu vực này thường có cảnh quan tự nhiên hấp dẫn, chứa đựng nhiều giá trị văn hóa đặc sắc. Văn hóa có thể được sử dụng như một công cụ để thúc đẩy quá trình chuyển đổi nông thôn.
Khi nhu cầu văn hóa được gắn vào phát triển nông thôn, bản thân làng sẽ có khả năng biến đổi tốt (Perkins và cộng sự, 2015; Astuti và cộng sự, 2016; Scott và cộng sự, 2016; Stastna và cộng sự, 2017) [101] 1. Biến đổi khu vực nông thôn gắn liền với các đặc trưng văn hóa, xã hội và cộng đồng Mục tiêu phát triển nông thôn đã thay đổi rất nhiều theo thời gian. Các quan niệm hiện đại đều quan niệm bên cạnh nâng cao chất lượng đời sống vật chất, đời sống văn hóa tinh thần cũng là mục đích chính của phát triển nông thôn [38] [98]. Phát triển theo đặc trưng vùng là một cách tiếp cận cho phát triển nông thôn được UNDP và ADB đề xuất trong những năm 2000 trở lại đây [83].
Quan 12 điểm cơ bản là mỗi vùng lãnh thổ đều có những đặc trưng tự nhiên, kinh tế, xã hội hoàn toàn khác nhau, do vậy phát triển nông thôn phải dựa trên yếu tố vùng để tiếp cận và thực thi các chương trình hoạt động cụ thể được thiết kế để phù hợp với đặc điểm riêng và mục tiêu phát triển riêng của từng vùng. Phát triển bền vững về văn hóa được hiểu là sự sẻ chia các ý tưởng, niềm tin, các giá trị; những chuẩn mực xã hội, tri thức, đạo đức, thẩm mỹ. và tất cả những điều này được thực hành trong cộng đồng. Nguyên tắc cho phát triển bền vững về văn hóa cũng được xác định, đó là chấp nhận sự đa dạng, thay đổi, chủ quyền và tương đối văn hóa.[57] Phát triển nông thôn dựa trên cộng đồng là cách tiếp cận và áp dụng của nhiều tổ chức quốc tế.
Quan điểm coi cộng đồng là chủ thể của phát triển nông thôn và thiết lập môi trường thể chế phù hợp để phát huy vai trò làm chủ của cộng đồng của Quỹ Phát triển Nông nghiệp thế giới IFAD (2009) rất phù hợp với quan điểm về hợp tác và dựa trên cộng đồng của Dower (2001) [38]; của tổ chức Global Donor Platform for Rural Development (2006) về hai động lực của phát triển nông thôn bao là phát triển lấy con người làm trung tâm và Quản trị địa phương; quan điểm thể chế hiệu quả của Nimal (2006) và của nhiều tác giả khác (Arcand, 2008; McAndrews, Brillantes &Siamwalla, 2001; FAO, 2001; Farrington,2008; Roche, Frederick, & Siamwalla, 2001) [29]. Điều kiện nông thôn được cải thiện và quá trình “đô thị hóa ngược”: Trong quá trình toàn cầu hóa, đô thị hóa, thông tin hóa và thị trường hóa liên tục lan tỏa đến nông thôn, rất nhiều nhận định về suy thoái nông thôn, các cộng đồng nông thôn "đang chết dần", cộng đồng cận biên và "làm rỗng" vùng nông thôn để mô tả vòng xoáy đi xuống của việc giảm dần việc làm, giảm dân số, suy thoái kinh tế và suy thoái chất lượng cuộc sống ở nông thôn. Đến những năm 1990, "sự phục hồi nông thôn" được thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới; được phát hiện và nghiên cứu rộng rãi ở các nước như 13 Vương quốc Anh (Cloke và cộng sự, 1995), New Zealand ( Swaffield và Fairweather, 1998 ), Úc (Curry và cộng sự, 2001), Mỹ ( Ghose, 2004) và Tây Ban Nha ( Solana-Solana, 2010) [100]. Các chính phủ trên nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm đến quy hoạch nông thôn, bảo tồn các công trình kiến trúc và phong tục tập quán đặc trưng của vùng quê trong xây dựng; tăng cường bảo vệ cảnh quan thiên nhiên nông thôn, cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn, tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp nông thôn, tạo ra cộng đồng nông thôn với điều kiện sống được cải thiện và thực hiện hiệu quả quá trình chuyển dịch dân cư trong “đô thị hóa ngược”.
Mô hình không gian làng sinh thái: Khái niệm làng sinh thái đã có từ lâu ở nhiều nơi trên thế giới. Từ năm 1991, Robert Gilman nêu ra lần đầu tiên trong bài báo The Eco-village Challenge [82] định nghĩa làng sinh thái dựa trên 5 nguyên tắc: (i) Quy mô con người phù hợp: mọi người có thể biết nhau, được những người khác trong cộng đồng biết đến và là nơi mỗi thành viên của cộng đồng cảm thấy mình có thể ảnh hưởng đến định hướng của cộng đồng. Dân số khoảng 500 người, cá biệt có thể 100 người hoặc 1.000 người; (ii) Là khu định cư đầy đủ tính năng; đáp ứng cho cuộc sống bình thường, cư trú, cung cấp thực phẩm, sản xuất, giải trí, đời sống xã hội và thương mại; (iii) Các hoạt động của con người không tác động có hại đến thế giới tự nhiên; (iv) Hỗ trợ sự phát triển lành mạnh của con người về thể chất, tình cảm, tinh thần, tâm linh; (v) Là cộng đồng bền vững, có thể được tiếp tục thành công trong tương lai vô thời hạn. Các chỉ tiêu cơ bản của một làng sinh thái: Có khoảng 50 ha; Có khoảng 30 lô đất; Số lô đất cao nhất: 100; 70% ruộng đất là của công; Mỗi cá nhân đều phải làm việc ở nhà; Sử dụng ruộng đất đa dạng: ở, buôn bán, làm ruộng; Có các dịch vụ: điện, nước, điện thoại.
Biến đổi KGKT làng khu vực DTTS Nhiều quốc gia đã có những chương trình, dự án để đảm bảo duy trì, 14 phát huy giá trị làng truyền thống, DTTS. Ở Trung Quốc, dự án "Làng truyền thống Trung Quốc" bắt đầu vào năm 2012, với phần kết đánh giá đợt thứ năm, danh sách các làng truyền thống Trung Quốc làng đã tăng lên 6. Việc bảo vệ và sử dụng các làng truyền thống bằng cách tập trung những nỗ lực của xã hội, chính phủ và người DTTS là một đảm bảo quan trọng cho việc bảo tồn và phát triển các làng truyền thống. Các quốc gia Đông Nam Á với sự hỗ trợ của WB, ADB.
cũng đã có rất nhiều chương trình, dự án nhằm nâng cao chất lượng sống nói chung và môi trường cư trú nói riêng ở các vùng người bản địa, DTTS. Các tổ chức quốc tế cũng đã có nhiều nghiên cứu, dự án và quy định nhằm phát triển khu vực người bản địa, DTTS như Công ước về Người bản địa và Bộ lạc của ILO, năm 1989 (số 169), và Tuyên bố của Liên hợp quốc về Quyền của Người bản địa. Biến đổi KGKT làng gắn với các hoạt động du lịch: việc bảo tồn và phát huy các làng du lịch được ứng dụng ở nhiều quốc gia như Hoa Kỳ (làng du lịch người Indian ở bang Massachusetts), Thái Lan (làng văn hóa của các tộc người Shan, H’mông, Karen, Lahu… ở Chiang Mai và Chiang Rai); Trung Quốc (các làng du lịch Zhaoxing và Gaozeng của tộc người Dong ở tỉnh Quý Châu)… Biến đổi của KGKT làng là biểu hiện của quá trình vận động, biến đổi của nông thôn, vùng cao, vùng DTTS, là sự biến đổi của môi trường để nuôi dưỡng các giá trị văn hóa các DTTS. Phần lớn những chương trình, dự án phát huy giá trị làng truyền thống, DTTS đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp và làm biến đổi không gian các làng DTTS.
Biến đổi KGKT làng DTTS ở Việt Nam Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng sinh sống, trong đó 53 DTTS chiếm 14,7% dân số cả nước với khoảng 14,1 triệu người [58]. Việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, cải thiện môi trường ở gắn với bảo tồn phát huy giá trị 15 văn hóa DTTS là một mục tiêu lớn và xuyên suốt của các cấp chính quyền sau 1975 đến nay. Tuy nhiên, riêng trong phạm vi về KGKT làng, tùy từng giai đoạn, từng địa phương mà có những xu hướng và giải pháp khác nhau. Quá trình biến đổi KGKT làng DTTS ở nước ta có những chuyển biến mạnh mẽ gắn liền với quá trình định canh định cư, xây dựng NTM và các chương trình về DTTS, như: - Sắp xếp dân cư, định canh, định cư vùng đồng bào DTTS: Quyết định số 1776/QĐ-TTg ngày 21/11/2012 của TTCP phê duyệt Chương trình bố trí dân cư các vùng: thiên tai, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, di cư tự do, rừng đặc dụng giai đoạn 2013 – 2015 và định hướng đến năm 2020.
Ngoài ra, đối với từng vùng còn có các chương trình, quy hoạch riêng như: Quyết định số 570/QĐ-TTg năm 2012 của TTCP phê duyệt Quy hoạch bố trí ổn định dân cư các xã biên giới Việt-Trung giai đoạn 2012-2017; Quyết định 49/2008/QĐ- TTg phê duyệt Quy hoạch ổn định dân cư các xã biên giới Việt - Lào vùng Trung du miền núi Bắc Bộ đến năm 2015; Quyết định số 1179/QĐ-TTg năm 2009 của TTCP phê duyệt Quy hoạch bố trí ổn định dân cư các xã biên giới Việt Nam - Lào thuộc các tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Kon Tum đến năm 2015. - TĐC phục vụ các dự án lớn: việc xây dựng các dự án lớn khu vực miền núi, đặc biệt là các công trình thủy điện lớn vừa qua đã tác động không nhỏ đến KGKT làng DTTS. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến năm 2020, nước ta có khoảng 86 dự án thủy điện phải thực hiện công tác di dân, TĐC. Tổng số dân phải di chuyển để xây dựng các cổng trình thủy điện trên cả nước là 66.
Trong đó, ước tính 90% số người bị ảnh hưởng bởi thủy điện là đồng bào DTTS sống ở vùng núi [5]. - Xây dựng NTM, điểm dân cư NTM kiểu mẫu: Bên cạnh các chính sách chung của Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Trung ương 16 và các tỉnh cũng đã có nhiều chương trình, dự án, nguồn vốn lồng ghép nhằm cái thiện môi trường ở của vùng DTTS. Nhiều địa phương rất chú ý đến không gian làng phù hợp với phong tục tập quán, văn hóa địa phương như tỉnh Gia Lai với mô hình “Làng NTM trong vùng đồng bào DTTS”.