ĐẶT VẤN ĐỀ Beta thalassemia là một rối loạn huyết sắc tố di truyền gây ra do sự tổng hợp bị suy yếu (ức chế một phần hoặc toàn bộ) chuỗi beta globulin, dẫn đến thiếu máu huyết tán mạn tính.[30] Ước tính, khoảng 7% dân số thế giới mang gen bệnh thalassemia; nước ta ở vào khu vực có nguy cơ cao với khoảng hơn 5 triệu người mang gen bệnh, khoảng hơn 20.000 bệnh nhân cần điều trị, mỗi năm có khoảng 2.000 trẻ sinh ra bị bệnh[5]. Cho đến hiện nay điều trị chủ yếu bệnh beta thalassemia vẫn là truyền máu và thải sắt. Thải sắt sớm giúp giảm ứ đọng sắt ở tim, gan và các cơ quan khác giúp cải thiện chức năng tim và tăng tuổi thọ của bệnh nhân mắc beta thalassemia [32]. Bệnh tim là nguyên nhân chính gây tử vong ở bệnh nhân beta thalassemia.
Suy tim thứ phát do quá tải sắt là đặc điểm lâm sàng nổi bật và là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở bệnh nhân beta thalassemia thể nặng, tỷ lệ tử vong do bệnh tim mạch lên đến 53,4% [64] .Khi không được điều trị thải sắt hiệu quả, cơ tim sẽ bị tổn thương do ứ sắt kéo dài dẫn đến suy tim, rối loạn nhịp tim, suy tim sung huyết tiến triển hay đột tử. Sự lắng đọng sắt trong cơ tim có thể được giảm thiểu với liệu pháp thải sắt sớm và tích cực [29]. Trong khi đó cung lượng tim cao do tình trạng thiếu oxy mô mạn tính và tăng sức cản mạch máu là những yếu tố chính dẫn đến bệnh tim ở bệnh nhân thalassemia thể trung gian, sau đó mới là quá tải sắt [13]. Những bất thường tim mạch ở bệnh nhân beta thalassemia còn được ghi nhận có liên quan đến thời gian mắc bệnh, độ tuổi thải sắt và truyền máu.
Aessopos và cộng sự báo cáo giãn tâm thất hai bên và rối loạn chức năng liên quan đến tăng áp phổi là những biến đổi tim mạch chính ở bệnh nhân beta thalassemia. Họ cũng báo cáo rằng bệnh tim là nguyên nhân chính gây tử vong ở bệnh nhân thalassemia và khuyến cáo siêu âm tim và chụp cộng hưởng từ tim (MRI) là công cụ hữu ích trong đánh giá sớm biến đổi chức 2 năng tim ở những bệnh nhân này [11]. Danish và cộng sự khuyến cáo siêu âm Doppler là một phương pháp an toàn, đơn giản và có thể lặp lại cho những bệnh nhân bị beta thalassemia thể nặng, nhất là ở những nước có tỷ lệ mắc bệnh thalassemia cao, so với phương pháp MRI-T2 [39]. Trên lâm sàng việc phát hiện sớm những trường hợp beta thalassemia có biến chứng tim mạch, kể cả khi chưa có triệu chứng lâm sàng, sẽ giúp các bác sĩ có chiến lược điều trị sớm và tích cực, làm chậm quá trình tiến triển đến nặng, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.
Hiện nay tại Thái Nguyên chưa có nghiên cứu đánh giá những bất thường tim mạch, đặc biệt là phát hiện sớm biến chứng tim mạch trên bệnh nhân beta thalassemia. Việc kiểm tra và theo dõi các biến chứng tim mạch, trên nhóm bệnh nhân beta thalassemia đang được quản lý và điều trị tại bệnh viên Trung ương Thái Nguyên chưa được được làm thường quy. Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài: “Biến đổi hình thái và chức năng tim ở bệnh nhân beta thalassemia điều trị tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2020” với các mục tiêu sau: 1. Mô tả biến đổi hình thái và chức năng tim ở bệnh nhân beta thalassemia điều trị tại bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2020 2.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến biến đổi hình thái và chức năng tim ở bệnh nhân beta thalassemia điều trị tại bệnh viện bệnh viện Trung ương Thái Nguyên năm 2020 3 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Các khái niệm về beta thalassemia 1. Beta Thalassemia, các thể beta thalassemia Beta thalassemia là bệnh di truyền liên quan chặt chẽ với nguồn gốc dân tộc, phân bố khắp toàn cầu, song mang tính chất địa dư rõ rệt. Theo Liên đoàn Thalassemia quốc tế (2005) ước tính có 1,5% dân số thế giới, 80- 90 triệu người mang gen β-thalassemia, mỗi năm có thêm 60.000 trường hợp mới sinh mang gen bệnh.
Riêng khu vực Đông Nam Châu Á, số người mang gen β- thalassemia tới 50% người mang gen toàn cầu, khoảng 40 triệu người. Ở Việt Nam, bệnh có ở tất cả các tỉnh thành, ở nhiều dân tộc khác nhau. Bệnh phổ biến hơn ở dân tộc ít người miền núi và cao nguyên. Beta thalassemia phổ biến ở người dân tộc ít người miền Bắc hơn.
Hemoglobin E phổ biến ở miền Trung và miền Nam hơn. Ở Việt Nam, β0 -thalassemia phổ biến hơn β+- thalassemia. Bệnh Beta Thalassemia là một loại bệnh Hb xảy ra do các đột biến gen làm giảm hoặc không tổng hợp được chuỗi β-globin của phân tử Hb. Kết quả tạo nên các Hb bất thường dẫn đến giảm hoặc không thực hiện được chức năng vận chuyển khí cho cơ thể.
Nếu đột biến gen làm chuỗi -globin giảm hay không được tạo thành gọi là bệnh -Thalassemia. Cũng có trường hợp cả hai chuỗi β và α bị thiếu hụt hơn bình thường, trường hợp này gọi là thể phối hợp α/β thalassemia.Bệnh hemoglobin E (HbE do đột biến sai nghĩa tại vị trí nucleotide 129 củachuỗi -globin (bộ ba mã hoá thứ 26 trên exon 1: GAG bị thay bằng AAG,làm cho acid amin vị trí thứ 26 là Glutamic acid bị thay bằng Lysine, dẫn đến giảm số lượng chuỗi -globin. Như vậy, HbE cũng là -Thal thể nhẹ [30]. Hemoglobin bình thường gồm hai thành phần là hem và globin.
Globin gồm 4 mạch polypeptid, 2 mạch loại α, 2 mạch loại β. Ở người có 6 loại Hb 4 bình thường. Hb ở thời kỳ phôi thai là Hb Gower 1, Hb Gower 2 và Hb Portland. Hb ở thời kỳ thai nhi đến khi trưởng thành là HbA1, HbA2 và HbF.
Cấu trúc globin của HbA1 là α2β2. của HbA2 là α2δ2 và của HbF là α2γ1. Các gen mã hóa tổng hợp globin của hemoglobin Các gen mã hóa cho sự tổng hợp các globin của Hb người được sắp xếp thành 2 cụm. Các gen loại α ở nhiễm sắc thể 16, còn gen-loại β thấy ở nhiễm sắc thể 11.
Cụm gen globin α gồm 3 gen chức năng, một trong ba gen đó là gen ξ2 mã hóa cho mạch ξ, là thành phần Hb phôi thai Gower 1, hai gen còn lại là gen đôi α1 và α2 mã hóa cho mạch globin α. Cụm gen loại globin β gồm 5 gen chức năng, gen ε mã hóa cho globin ε có trong Hb Gower 1 và Hb Gower 2, gen γ mã hóa cho globin γ trong HbF, hai gen còn lại là gen δ cho globin δ và gen β cho globin β Các thể Beta thalassemia Trên lâm sàng bệnh được chia thành 3 thể chính: - Thể nặng (major): còn gọi là bệnh Cooley, thể đồng hợp tử. Bệnh nhân có thiếu máu, tan máu mạn tính mức độ nặng với các triệu chứng thiếu máu, lách to, gan to, da bị nhiễm sắc tố, biến dạng xương, chậm phát triển thể chất. - Thể trung gian (intermedia) : có thể là thể đồng hợp tử, thể dị hợp tử kép hay thể phối hợp.
Thể này có thiếu máu vừa hoặc nhẹ, bệnh tiến triển chậm và nhẹ, thường kèm theo vàng da, gan, lách to. Bệnh nhân không có thay đổi về thể trạng, chỉ bị thiếu máu mức độ trung bình và thỉnh thoảng mới cần truyền máu - Thể nhẹ - thể ẩn: còn gọi là thể dị hợp tử. Là một thể bệnh tương đối nhẹ, không có biểu hiện lâm sàng, cơ thể phát triển bình thường, không có biến dạng xương, thiếu máu thường rất nhẹ. Chẩn đoán bệnh beta Thalassemia Lâm sàng: Thalassemia là bệnh mạn tính, các triệu chứng xuất hiện từ từ, kéo dài liên tục suốt cuộc đời bệnh nhân.
Các hội chứng thường gặp: - Hội chứng thiếu máu mạn tính: 5 Mệt mỏi, chóng mặt, chậm lớn ( Trẻ nhỏ) Khó thở khi gắng sức, nhịp tim nhanh Da xanh, niêm mạc nhợt - Hội chứng tan máu mạn tính: Củng mạc mắt vàng, nước tiểu sẫm màu Lách to, gan to - Tăng sinh tủy xương tạo máu phản ứng: Phì đại các xương dẹt làm biến dạng đầu, mặt trán dô, mũi tẹt, bướu chẩm , ghò má cao, răng khấp khểnh - Quá tải sắt: Da xạm den, da khô Tổn thương các tổ chức do quá tải sắt: suy tuyến nội tiết như suy tuyến yên làm chậm phát triển thể chất, suy tuyến sinh dục làm dậy thì muộn. Mãn kinh sớm, suy tim, xơ gan, loãng xương, loét chân tay vô khuẩn Xét nghiệm: - Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi: hồng cầu nhỏ (MCV < 85 fL), nhược sắc (MCH < 28 pg), kích thước không đều (RDW > 14 %), đa hình thái như hình bia bắn, hình giọt nước, có thể có hồng cầu non ra máu ngoại vi, số lượng hồng cầu lưới tăng. - Sức bền thẩm thấu hồng cầu (Osmotic Fragility - OF): tăng - Test DCIP (dichlorophenolindophenol): dương tính khi có huyết sắc tố E - Xác định thành phần HST: bằng điện di huyết sắc tố hoặc sắc ký cao lỏng áp thấy có Hb bất thườn hoặc thay đổi thành phần Hb cụ thể như sau: + Thể dị hợp tử: chỉ thiếu hụt 1 trên beta Huyết sắc tố thường không dưới 90g/l Điện di huyết sắc tố thường giảm Hb A1 và tăng Hb A2 > 3,5%. + Thể đồng hợp tử: Thiếu hụt cả 2 gen Biểu hiện từ rất sớm và vài tháng sau khi sinh, thiếu máu nặng Điện di huyết sắc tố: tăng Hb F và A2, Hb A1 vết hoặc không có.
6 - Xác định đột biến gen globin bằng kỹ thuật PCR, giải trình tự gen globin: là phương pháp xác định các đột biến gen globin. - Sinh hóa máu: Bilirubin toàn phần tăng, bilirubin gián tiếp tăng, sắt huyết thanh tăng, ferritin tăng, LDH tăng, khả năng gắn sắt toàn thể bình thường, độ bão hòa trasferrin tăng, transferrin bình thường hoặc giảm. Có thể có các chỉ số hormone thay đổi: tuyến yên, tuyến sinh dục, tuyến giáp, tuyến cận giáp, tụy nội tiết Có thể thay đổi các chỉ số: GOT, GPT, photphatase kiềm, GGT, ure, creatinin, acid uric, protein, albumin, globulin, canxi, photphate, magie, vitamin B12, acid folic - Những xét nghiệm để phát hiện và phòng ngừa biến chứng: Định nhóm máu hệ ABO, Rh trước khi truyền máu, Test coomb trực tiếp, gián tiếp. Siêu âm ổ bụng: Gan, lách, mật.
Chụp MRI gan, tim để đánh giá mức độ quá tải sắt tại gan và tim. Xquang xương, ECG, Siêu âm tim .