MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Bạo lực gia đình là một hiện tượng xã hội tồn tại dai dẳng từ xưa đến nay, ở mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi vùng miền [4]. Hành vi bạo lực gia đình rất phong phú, đa dạng và gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội. Bạo lực gia đình không những để lại hậu quả nghiêm trọng cho các cá nhân nói chung, mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ đối với trẻ em.
Theo các số liệu khảo sát xã hội học: Bạo lực gia đình ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ chiếm 91,0%; gây tổn hại về sức khỏe, thể chất: 87,5%; gây tổn thương về tâm lý, tinh thần: 89,4%; gây tan vỡ gia đình: 89,7% và làm rối loạn trật tự, an toàn xã hội: 89%. Với trẻ em hậu quả nguy hại nhất là làm cho các em mất niềm tin vào các thành viên gia đình, từ đó chán học, sa ngã vào các tệ nạn xã hội hoặc có hành vi phạm pháp. [28] Bởi vậy can thiệp hợp lý và kịp thời đối với bạo lực gia đình sẽ giúp đỡ rất nhiều cho trẻ em, tránh gây nên những hậu quả suốt đời đối với trẻ, giúp trẻ có một không gian an toàn lành mạnh để sống học tập, thúc đẩy sự phát triển hài hòa và toàn diện đối với trẻ. Dulamdary Enkhtor và cộng sự (2007), nghiên cứu về trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em đã chỉ ra rằng khi bị bố mẹ trừng phạt, trẻ cảm thấy buồn, ân hận, hối lỗi, đau khổ [4].
10/11 phân tích của Gershoff cho thấy sự trừng phạt của cha mẹ (hoặc BLGĐ) có liên quan đến những hành vi không mong muốn đối với trẻ sau đây: giảm tính cách đạo đức, tăng gây hấn ở trẻ em, tăng phạm tội trẻ em và hành vi chống đối xã hội, giảm chất của mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ em, giảm sức khỏe tâm thần trẻ em, tăng nguy cơ là nạn nhân của lạm dụng thể chất, tăng nguy cơ xâm hại của người lớn đối với trẻ, tăng hành vi tội phạm và chống xã hội, và gia tăng nguy cơ lạm dụng trẻ em hoặc vợ/chồng/bạn tình. Nghiên cứu của Graham – Bermann và Levendosky (1998); Moore và Pepler (1998) cũng chỉ ra rằng trẻ em sống trong gia đình có bạo lực gặp vấn đề về mặt cảm xúc, giao tiếp xã hội, nhận thức bản thân và hành vi. [4] 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện cùng các đối tác cho thấy có khoảng 21.2 % các cặp vợ chồng xảy ra các hiện tượng bạo lực như đánh, mắng chửi, chấp nhận quan hệ tình dục khi không có nhu cầu. Tình trạng bạo lực xảy ra với cả người vợ và người chồng.
Tỷ lệ chồng đánh vợ chiếm 3.4 % trong khi tỷ lệ vợ đánh chồng là 0. Tình trạng bạo lực giữa bố mẹ cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ. Nhìn chung bạo lực gia đình gây trở ngại rất lớn đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ. Quả vậy, trẻ em trong xã hội hiện đại chịu nhiều sức ép và áp lực hơn so với các thời đại trước đây.
Chứng kiến bạo lực gia đình và trực tiếp phải chịu sự trừng phạt của bố mẹ đôi khi là quá khắt khe, đẩy trẻ em vào tình huống rủi ro, ảnh hưởng đến thể chất và tâm lý của trẻ. Điều này đòi hỏi cần phải có sự lên tiếng của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em. “Trẻ em là tương lai của đất nước”, nếu không được bảo vệ và chăm sóc sẽ gây nên những hậu quả không tốt cho gia đình và xã hội. Bảo vệ trẻ em là phải bảo vệ một cách toàn diện trẻ nhiều mặt, nhiều chiều cạnh của cuộc sống.
Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi lạm dụng, bỏ bê, khai thác và phân biệt đối xử [16]. Nó bao gồm quyền có nơi an toàn để vui chơi; cách nuôi dạy mang tính xây dựng và nhận thức về khả năng phát triển của trẻ em. Bởi vậy, nhà nước ta luôn coi trọng công tác Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bằng nhiều hình thức như: ban hành luật BVCSGDTE, luật Hôn Nhân và Gia Đình… hay các chương trình dự án về sức khỏe trẻ em, về bảo vệ trẻ em. Từ trước đến nay, có rất đề tài dự án khoa học nghiên cứu đánh giá về công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Trong công tác nghiên cứu xã hội, nhóm trẻ em trong các gia đình bạo lực được nhắc đến nhiều. Các nghiên cứu này đã chỉ ra những tổn thương tâm lý của trẻ em phải chịu do bạo lực gia đình, chỉ ra phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em. Những nghiên cứu cũng đã đưa ra những phương pháp tiếp cận để trị liệu tâm lý, tâm thần một cách cá nhân cho trẻ em khi phải chứng kiến bạo lực gia đình.Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào phân tích và giải quyết dưới góc độ công tác xã hội nhằm phục vụ việc bảo vệ trẻ em trực tiếp khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng được tốt hơn. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi hình thành tính cách và nhân cách cho trẻ.
Xây dựng các thiết chế gia đình bền vững được xem là giải pháp nội lực để phòng tránh bạo lực gia đình. Vì vậy đòi hỏi các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận đoàn thể xây dựng được quy chế, quy ước nhằm hạn chế mâu thuẫn có thể bùng nổ thành xung đột, tạo dựng hình ảnh gia đình chuẩn mực: no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững [29]. Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, đồng thời, là một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nước. Nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội đã phát triển và thành công tại Hà Nội.
Nền dân trí và sự hiểu biết của người Hà Nội cao hơn so với các vùng khác trong cả nước. Tuy vậy, tình trạng BLGĐ ở Hà Nội vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, trẻ em trong một số gia đình tại Hà Nội vẫn phải chịu những sự trừng phạt nặng nề của tệ nạn BLGĐ. Những trẻ em này là đối tượng quan trọng cần được bảo vệ của công tác xã hội. Là một ngành khoa học ứng dụng và là một nghề trợ giúp xã hội nên công tác xã hội không thể không chú ý tới nhóm trẻ em bị BLGĐ.
Sự quan tâm của gia đình đã giúp cho trẻ em được an toàn, tránh nhiều sự nguy hiểm trong xã hội. Tuy nhiên tệ nạn BLGĐ đã gây ra nhiều tổn hại về sức khỏe và tinh thần cho trẻ em. Hoạt động bảo vệ trẻ em cần phải được xuất phát từ chính các gia đình mà đặc biệt từ những gia đình thường xuyên xảy ra bạo lực. Công tác BVCSGDTE ở Việt Nam luôn được đặt trong mối quan hệ khăng khít giữa gia đình – nhà trường – xã hội.
Vì vậy, vai trò của cộng đồng, của CTXH nhằm ngăn chặn tác động xấu từ BLGĐ đến trẻ em luôn là vấn đề cần thiết và cấp bách. Vấn đề này ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đã có sự quan tâm của các cấp các ngành. Song để đạt được kết quả tốt hơn, cần có những nghiên cứu để đề ra những giải pháp hữu hiệu hơn. Với tất cả những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn “Nâng cao hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại Quận Hoàn Kiếm, Quận Thanh Xuân và Quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội)”.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Lịch sử phát triển công tác bảo vệ trẻ em trên thế giới Trên thế giới, làn sóng cứu trợ trẻ em được hình thành vào những năm cuối thế kỷ 19 với tên gọi “Làn sóng đầu tiên” của phong trào bảo vệ trẻ em. Các biểu 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiện đầu tiên của dịch vụ bảo vệ trẻ em với một uỷ quyền hợp pháp can thiệp để bảo vệ trẻ em khỏi bị lạm dụng và bỏ bê xuất hiện vào cuối thế kỷ 19. Hoạt động này ban đầu diễn ra dưới hình thức của những nỗ lực từ thiện và nhân đạo (Jeffreys & Stevenson, 1996), trong một trường hợp xảy ra bạo lực với trẻ em bởi người chăm sóc.
Trẻ em, là nạn nhân của bạo lực gia đình đó - Mary Ellen đặt trong một trại trẻ mồ côi và người chăm sóc cô bị giam cầm. Sự kiện này sớm đã dẫn đến việc thành lập Hiệp hội New York về Phòng chống tàn ác đối với trẻ em (NYSPCC). NYSPCC được thành lập vào tháng 12 năm 1874, là cơ quan bảo vệ trẻ em đầu tiên trên thế giới (NSPCC, 2000; NYSPCC, 2000). Việc thành lập các NYSPCC cũng dẫn đến hình thành các thiết chế pháp luật bảo vệ trẻ em và ra đời tòa án vị thành niên ở Hoa Kỳ (Fogarty, 2008) [39].
Nhãn quan bảo vệ trẻ em thay đổi đáng kể trong những năm đầu 1960s - gọi là làn sóng thứ hai của phong trào giải cứu đứa trẻ. Sự quan tâm chuyên nghiệp và hiện đại về BVCSTE vào đầu những năm 1960. Hoạt động này đã được thúc đẩy bởi nhiều nghiên cứu nổi tiếng, trong số đó là một nghiên cứu ở Mỹ do tiến sĩ Henry Kempe (Fogarty, 2008). Kempe, Silverman, Steele, Droegemueller (1962) đặt ra thuật ngữ "hội chứng đánh đập con" bằng việc mô tả bằng chứng về chấn thương thể chất không được điều trị do lạm dụng thân thể của người chăm sóc [34].
Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của các nhà chức trách và của chính bố mẹ, gia đình – người chăm sóc trẻ. Mặc dù được hình thành vào những năm 60 nhưng vào cuối những năm 1980 và 1990 hoạt động này tiếp tục được thay đổi theo mỗi tiểu bang của Mĩ. Hầu hết các quốc gia chuyển sang "chuyên nghiệp hóa" ứng phó với tình trạng lạm dụng và bỏ bê trẻ em. Điều này dẫn đến việc áp dụng rộng rãi các hoạt động chuyên nghiệp ra quyết định hỗ trợ, hướng dẫn và kiểm tra, đánh giá rủi ro của việc ngược đãi trẻ em (Holzer & Bromfield, 2008).
Vào cuối những năm 1990, dịch vụ bảo vệ trẻ em trong tất cả các tiểu bang và vùng lãnh thổ Úc đã gặp khó khăn để đối phó với một số lượng lớn các báo cáo nghi ngờ lạm dụng và bỏ bê trẻ em.