CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO VỆ THÔNG TIN CÁ NHÂN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Các khái niệm liên quan 1. Thương mại điện tử Sau hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, Internet đã trở thành một phần không thể thiếu của cuộc sống hiện đại. Cùng với sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet, hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động thương mại nói riêng dần chuyển mình sang “số hóa”, “điện tử hóa”, từ đó TMĐT cũng được hình thành và ứng dụng rộng rãi.
Với sự phát minh ra hình thức mua sắm trực tuyến (online shopping) mà sau này được biết đến với tên gọi TMĐT của Michael Aldrich vào năm 1979, TMĐT đã ngày càng phát triển hơn và trở thành đòn bẩy cho sự tăng 1 trưởng đối với hầu hết các nền kinh tế trên toàn cầu. TMĐT (e-commerce) là một thuật ngữ được biết đến với nhiều tên gọi khác như thị trường điện tử (e-market), kinh doanh điện tử (e-bussiness), thương mại trực tuyến (online trade), thương mại không giấy tờ (paperless commerce) hay thương mại số hóa (digital commerce)… Dù được sử dụng với tên gọi nào thì về cơ bản đều chỉ việc ứng dụng các phương tiện điện tử có kết nối mạng vào việc triển khai hoạt động kinh doanh, thương mại. Trong số đó, có thể thấy TMĐT là thuật ngữ phổ biến, được sử dụng thống nhất trong đời sống cũng như trong hệ thống pháp luật và 2 khoa học pháp lý của nhiều quốc gia. TMĐT “bắt đầu bằng việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, các doanh nghiệp tiến tới ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi hoạt động của mình, từ bán hàng, marketing, thanh toán đến mua sắm, sản xuất, đào tạo, phối hợp hoạt động với nhà cung cấp, đối tác, khách hàng… khi đó, TMĐT có thể phát triển thành kinh doanh 3 điện tử, và ứng dụng TMĐT ở mức cao được gọi là doanh nghiệp điện tử”.
TMĐT thường được sử dụng rộng rãi để mô tả hoạt động mua sắm trên Internet và đã được phát triển nhanh chóng để phù hợp với sự phát triển của công nghệ thông tin và công nghệ mạng. Tuy nhiên, so với khái niệm mua sắm trên Internet, rõ ràng 1 Xem thêm: Michael Aldrich (2011), “Online Shopping in the 1980s”, Annals of the History of Computing, Vol. 2 Nhiều nghiên cứu cho rằng, từ thời điểm Chính phủ Hoa Kỳ công bố “Khung TMĐT toàn cầu” (The Framework for Global Electronic Commerce) vào năm 1997, thuật ngữ TMĐT bắt đầu được sử dụng rộng rãi. 3Trường Đại học Ngoại thương (2013), Giáo trình TMĐT, Nguyễn Văn Hồng - Nguyễn Văn Thoan, Nxb.
Bách khoa - Hà Nội, tr. 8 TMĐT là một khái niệm rộng hơn, bao gồm tất cả các giao dịch thương mại dựa 4 trên việc xử lý điện tử và truyền tải dữ liệu, văn bản, âm thanh và hình ảnh. Hiện nay, còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về TMĐT nhưng tựu trung lại, thuật ngữ TMĐT có thể được nhìn nhận một cách tổng quan với hai khuynh hướng cơ bản: theo nghĩa hẹp và theo nghĩa rộng. Cụ thể: Theo nghĩa hẹp, TMĐT là hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua 5 các phương tiện điện tử và mạng viễn thông, chủ yếu là máy tính và Internet.
Điển hình như định nghĩa về TMĐT của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation and Development - OECD), theo đó: TMĐT là việc bán hoặc mua hàng hóa hoặc dịch vụ thực hiện thông qua Internet của các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ và các tổ chức công cộng hoặc tư nhân khác. Các hàng hóa và dịch vụ được đặt hàng qua mạng nhưng thanh toán và giao hàng có 6 thể được tiến hành trực tiếp. Cách tiếp cận theo nghĩa hẹp cho rằng TMĐT bắt đầu bằng việc các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện điện tử và mạng Internet để mua bán hàng hóa và dịch vụ, các giao dịch có thể giữa các doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), hoặc giữa doanh nghiệp với khách hàng cá nhân (B2C), hoặc giữa các cá nhân 7 với nhau (C2C). TMĐT theo nghĩa hẹp đề cập đến hoạt động thương mại được thực hiện “phi giấy tờ”, gắn liền với Internet và máy tính.
Tuy nhiên, cách định nghĩa này chỉ phù hợp với giai đoạn đầu của TMĐT, sự hình thành và phát triển của TMĐT được xuất phát từ chính Internet, đồng thời trình độ về khoa học công nghệ của nhân loại trong thời kỳ này còn hạn chế. Có thể đưa ra nhận định rằng, Internet và máy tính chính là khởi nguồn để hình thành và thúc đẩy hoạt động TMĐT. Tuy nhiên, khái niệm TMĐT theo nghĩa hẹp đến thời điểm hiện tại đã không còn phù hợp, chưa bao quát được hết các hình thức và đặc thù của TMĐT trong bối cảnh tri thức và khoa học công nghệ đã và đang phát triển vượt bậc. Theo nghĩa rộng, TMĐT có thể được áp dụng với tất cả các hoạt động thương mại thông qua việc truyền dẫn dữ liệu bằng phương tiện điện tử, chẳng hạn: 4 Meirong Guo (2012), “A Comparative Study on Consumer Right to Privacy in E-Commerce”, Modern Economy, Vol.
5 Internet là một hệ thống thông tin toàn cầu có thể được truy nhập công cộng gồm các mạng máy tính được liên kết với nhau. Hệ thống này truyền thông tin theo kiểu nối chuyển gói dữ liệu (packet switching) dựa trên một giao thức liên mạng đã được chuẩn hóa (TCP/IP) để trao đổi thông tin giữa các máy tính với nhau. Cerf (1999), “What Is The Internet (And What Makes It Work)”, https://www.us/what_is_internet.html#Introduction, truy cập ngày 24/2/2018. the OECD definitions of internet and e-commerce transactions”, https://www.org/internet/ieconomy/2771174.pdf, truy cập ngày 26/2/2018.
7 Trường Đại học Ngoại thương (2013), tlđd (3), tr. 9 Đại hội đồng (General Council) của WTO khi thông qua Chương trình làm việc về TMĐT vào tháng 9/1998 (the Work Programme on Electronic Commerce) đã định nghĩa TMĐT là việc “sản xuất, phân phối, tiếp thị, bán hoặc chuyển giao hàng hóa và dịch vụ bằng phương tiện điện tử”. Phương tiện điện tử được hiểu là các công cụ truyền tin như điện thoại, fax, telex, điện tín, truyền hình, thư điện tử và 8 các phương tiện điện tử khác. Theo Ủy ban châu Âu (European Commission - EC), TMĐT là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng Internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến).
Bao gồm việc đặt hàng và dịch vụ thông qua mạng máy tính, nhưng việc thanh toán và giao hàng cuối cùng có thể thực hiện 9 trực tuyến hoặc ngoại tuyến. Cũng tiếp cận theo nghĩa rộng, Luật mẫu về TMĐT 1996 của Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL Model Law on Electronic Commerce 1996) đã xác định TMĐT là việc sử dụng “thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại” (Điều 1) và “thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo, gửi, nhận hoặc lưu trữ bằng phương tiện điện tử, quang học hoặc tương tự bao gồm, nhưng không giới hạn, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, telex hoặc fax” (Điều 2). Thuật ngữ “thương mại” theo Luật mẫu được diễn giải rất rộng, bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có 10 hay không có hợp đồng. Có thể thấy rằng phạm vi của TMĐT hiểu theo UNCITRAL là rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế.
Việc mua bán hàng hóa và dịch vụ chỉ là một trong nhiều lĩnh vực áp dụng của TMĐT. Luật mẫu về TMĐT của UNCITRAL được xem là một chuẩn mực được nhiều quốc gia tham khảo khi xây dựng pháp luật về TMĐT. Pháp luật TMĐT của Việt Nam cũng đã học hỏi Luật mẫu khi xây dựng khái niệm TMĐT. Theo đó, Nghị định số 52/2013/NĐ-CP đưa ra định nghĩa hoạt động TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối 8Xem: Marc Bacchetta, - Patrick Low - Mattoo Aaditya - Ludger Schuknecht, Hannu Wager - Madelon Wehrens (1998), Electronic commerce and the role of the WTO, WTO Special Studies, No.org/english/res_e/publications_e/special_studies2_e.htm, truy cập ngày 1/3/2018.
9 “Glossary: E-Commerce”, http://ec.eu/eurostat/statistics-explained/index.php/Glossary:E- commerce, truy cập ngày 1/3/2018. 10 Điều 1 Luật mẫu về TMĐT, https://www.org/pdf/english/texts/electcom/05-89450_Ebook.pdf, truy cập ngày 6/3/2018. 10 11 với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. Luật GDĐT 2005 (khoản 10 Điều 4) xác định phương tiện điện tử là phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, 12 điện từ hoặc công nghệ tương tự.
Thuật ngữ “mạng” cũng được xác định rất rộng và đa dạng, cụ thể: là môi trường trong đó thông tin được cung cấp, truyền đưa, thu 13 thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông qua mạng viễn thông và mạng máy tính. Về cơ bản, nội hàm TMĐT theo pháp luật Việt Nam khá tương đồng với Luật mẫu ở cách tiếp cận theo hướng mở, với việc xác định TMĐT không chỉ được triển khai trong môi trường Internet, mà còn có thể tiến hành ở môi trường mạng khác và được đi kèm với một phương tiện điện tử bất kì. Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát, TMĐT là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác thông qua các phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác. Ở góc độ pháp lý, nhận diện và điều chỉnh hoạt động TMĐT và các vấn đề của nó theo nghĩa rộng là cách tiếp cận phù hợp, bởi lẽ: thứ nhất, hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế hiện nay rất đa dạng, không chỉ dừng lại ở hoạt động mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ đơn thuần; thứ hai, một trong những yếu tố chủ yếu chi phối hoạt động TMĐT là khoa học công nghệ, đây là yếu tố có sự phát triển nhanh, vượt lên cả cách thức điều chỉnh của pháp luật.
Cho nên, khi tiếp cận TMĐT theo nghĩa rộng, việc ban hành và xây dựng các quy định pháp luật về TMĐT sẽ bảo đảm yếu tố lâu dài, ổn định và hiệu quả. Người tiêu dùng Theo từ điển tiếng Việt, tiêu dùng là việc sử dụng của cải, vật chất để thỏa mãn 14 các nhu cầu của sản xuất và đời sống.