Bảo đảm quyền bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực thể chất ở Việt Nam - Luận văn Thạc sĩ Luật học

Chuyên khảo luật học phân tích Bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất ở việt nam hiện nay luận văn, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

105
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA TRẺ EM KHỎI MỌI HÌNH THỨC BẠO LỰC VỀ THỂ CHẤT

1.1. Khái niệm bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất

1.2. Khái niệm trẻ em, quyền bảo vệ của trẻ em

1.2.1. Khái niệm trẻ em

1.3. Khái niệm bạo lực về thể chất, các hình thức bạo lực về thể chất

1.4. Đặc điểm bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất

1.5. Bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất nhằm phòng ngừa và xử lý mọi hành vi xâm hại trẻ em

1.6. Bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất nhằm tạo cho trẻ em có điều kiện để phát triển toàn diện

1.7. Bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất là trách nhiệm, nghĩa vụ của tất cả mọi tổ chức, cá nhân

1.8. Nội dung bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất

1.8.1. Pháp luật quốc tế

1.8.2. Pháp luật trong nước

1.9. Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất

1.9.1. Yếu tố bảo đảm về chính trị

1.9.2. Yếu tố bảo đảm về pháp lý

1.9.3. Yếu tố bảo đảm về kinh tế, văn hóa, xã hội

1.10. Tiểu kết Chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA TRẺ EM KHỎI MỌI HÌNH THỨC BẠO LỰC VỀ THỂ CHẤT Ở VIỆT NAM

2.1. Tình hình trẻ em bị bạo lực về thể chất ở Việt Nam hiện nay

2.2. Kết quả, hạn chế trong bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất ở Việt Nam hiện nay

2.3. Kết quả trong bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất ở Việt Nam

2.4. Những hạn chế trong bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất ở Việt Nam

2.5. Tiểu kết Chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA TRẺ EM KHỎI MỌI HÌNH THỨC BẠO LỰC VỀ THỂ CHẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Quan điểm bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất

3.1.1. Bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất phải quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em

3.1.2. Bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất góp phần thực hiện cam kết quốc tế của Việt Nam

3.1.3. Bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất cần được huy động sức mạnh tổng hợp của tất cả mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân

3.2. Giải pháp bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất

3.2.1. Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, giám sát, phản biện xã hội nhằm thay đổi, nâng cao nhận thức, hành vi, trách nhiệm về bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất

3.2.2. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ trẻ em

3.2.3. Củng cố hệ thống tổ chức làm công tác bảo vệ trẻ em

3.2.4. Tăng cường hợp tác quốc tế và xã hội hóa về bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo vệ quyền trẻ em khỏi bạo lực thể chất tại Việt Nam

Bảo vệ quyền trẻ em khỏi bạo lực thể chất là một vấn đề cấp thiết tại Việt Nam. Trẻ em là tương lai của đất nước, và việc đảm bảo quyền lợi cho các em là trách nhiệm của toàn xã hội. Theo Công ước Quốc tế về quyền trẻ em, trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực, bao gồm cả bạo lực thể chất. Tuy nhiên, thực trạng bạo lực đối với trẻ em vẫn diễn ra phổ biến, đòi hỏi sự can thiệp kịp thời từ các cơ quan chức năng.

1.1. Khái niệm quyền trẻ em và bạo lực thể chất

Quyền trẻ em được hiểu là những quyền lợi tự nhiên mà trẻ em được hưởng, bao gồm quyền được sống, phát triển và được bảo vệ khỏi bạo lực. Bạo lực thể chất là những hành vi gây tổn thương đến cơ thể trẻ em, có thể đến từ gia đình, nhà trường hoặc xã hội.

1.2. Tình hình bạo lực thể chất đối với trẻ em tại Việt Nam

Theo thống kê của UNICEF, khoảng 68,4% trẻ em từ 1-14 tuổi đã từng bị bạo lực thể chất trong gia đình. Điều này cho thấy một thực trạng đáng báo động về sự an toàn của trẻ em tại Việt Nam.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo vệ quyền trẻ em khỏi bạo lực thể chất

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ quyền trẻ em, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Các vấn đề như nhận thức của xã hội về bạo lực đối với trẻ em, sự thiếu hụt trong hệ thống pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em là những yếu tố cản trở việc thực hiện quyền trẻ em.

2.1. Nhận thức xã hội về bạo lực đối với trẻ em

Nhiều người vẫn coi bạo lực thể chất là một phương pháp giáo dục hợp lý. Điều này dẫn đến việc trẻ em không được bảo vệ đúng mức và không dám lên tiếng khi bị xâm hại.

2.2. Thiếu hụt trong hệ thống pháp luật

Mặc dù Việt Nam đã có nhiều quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em, nhưng việc thực thi và giám sát vẫn còn nhiều hạn chế. Điều này làm giảm hiệu quả của các chính sách bảo vệ trẻ em.

III. Phương pháp bảo vệ quyền trẻ em khỏi bạo lực thể chất

Để bảo vệ quyền trẻ em khỏi bạo lực thể chất, cần có những phương pháp hiệu quả và đồng bộ từ các cơ quan chức năng, gia đình và xã hội. Việc nâng cao nhận thức, cải thiện hệ thống pháp luật và tăng cường giám sát là những giải pháp cần thiết.

3.1. Nâng cao nhận thức cộng đồng về quyền trẻ em

Cần tổ chức các chương trình giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức của cộng đồng về quyền trẻ em và tác hại của bạo lực thể chất.

3.2. Cải thiện hệ thống pháp luật và chính sách

Cần hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ trẻ em, đảm bảo tính khả thi và hiệu quả trong việc thực thi các quy định này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về bảo vệ quyền trẻ em

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc bảo vệ quyền trẻ em khỏi bạo lực thể chất không chỉ là trách nhiệm của nhà nước mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Các chương trình can thiệp và hỗ trợ cho trẻ em bị bạo lực đã cho thấy những kết quả tích cực.

4.1. Các chương trình can thiệp hiệu quả

Nhiều tổ chức phi chính phủ và cơ quan nhà nước đã triển khai các chương trình can thiệp nhằm hỗ trợ trẻ em bị bạo lực, giúp các em phục hồi tâm lý và hòa nhập cộng đồng.

4.2. Kết quả nghiên cứu về tình hình bạo lực trẻ em

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc can thiệp kịp thời có thể giảm thiểu đáng kể tình trạng bạo lực đối với trẻ em và giúp các em phát triển toàn diện.

V. Kết luận và tương lai của bảo vệ quyền trẻ em tại Việt Nam

Bảo vệ quyền trẻ em khỏi bạo lực thể chất là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cần có sự chung tay của toàn xã hội để đảm bảo rằng mọi trẻ em đều được sống trong môi trường an toàn và lành mạnh.

5.1. Tương lai của quyền trẻ em tại Việt Nam

Với sự quan tâm ngày càng tăng từ chính phủ và xã hội, hy vọng rằng quyền trẻ em sẽ được bảo vệ tốt hơn trong tương lai.

5.2. Những giải pháp cần thực hiện

Cần tiếp tục triển khai các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền trẻ em, từ việc hoàn thiện pháp luật đến việc nâng cao nhận thức cộng đồng.

16/08/2025
Bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất ở việt nam hiện nay luận văn thạc sỹ luật học

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐÃM QUYỀN BẢO VỆ CỦA TRẺ EM KHỎI MỌI HÌNH THÚC BẠO LỤC VÈ THÉ CHẤT 1. Khái niệm bảo đảm quyền bảo vệ của trẻ em khỏi mọi hình thức bạo lực về thể chất 7. Khái niệm trẻ em, quyền bảo vệ của trẻ em ỉ. Khái niệm trẻ em Tùy vào góc độ tiếp cận của từng khoa học cụ thế, khái niệm trẻ em được hiểu ở nhiều cách khác nhau.

Theo triết học xem trẻ em là một “khâu” tất yếu trong mối quan hệ biện chứng với tiến trình phát triển của xã hội. Con người sáng tạo ra lịch sử và trẻ em là con đẻ của thời đại, của xã hội. Sự phát triển của xã hội, tương lai của một quốc gia, dân tộc tùy thuộc và việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em. Dưới góc độ tâm lý học, trẻ em là khái niệm được dùng để chỉ giai đoạn đầu của sự phát triển tâm lý, nhân cách của con người.

Sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em giai đoạn từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì là một trong những nội dung quan trọng trong nghiên cứu của các nhà tâm lý học. Theo đó, tâm lý học phân chia lứa tuổi trẻ em thành các giai đoạn khác nhau, ứng với sự phát triển và tiếp thu nhận thức khác nhau: Tuổi sơ sinh, tuổi mẫu giáo nhỏ, tuổi mẫu giáo lớn, tuổi nhi đồng, tuổi thiếu niên, tuổi thành niên mới lớn. Xã hội học lại xác định trẻ em là người có vị thế, vai trò xã hội khác với người trường thành. Trẻ em là người chưa đạt đến sự phát triển đầy đủ về mặt thể chất và tinh thần đế được coi là người lớn.

Do đó, trẻ em được xà hội quan tâm, tạo điều kiện sinh thành, bảo vệ, nuôi dưỡng, chăm sóc để phát triền một cách toàn diện. Dưới góc độ pháp lý, khái niệm trẻ em thường được tiếp cận theo độ tuối. Trên cơ sở độ tuổi, pháp luật xác định năng lực hành vi dành cho chủ thể đó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, một cá nhân được xem xét là người lớn hay trẻ em phụ thuộc vào ngày tháng năm sinh của người đó tại thời điểm phát sinh quan hệ 8 pháp luật.

Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia lại xác định độ tuổi của trẻ em khác nhau do phụ thuộc và vào điều kiện văn hóa, xà hội, kinh tế của mồi nước. Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 xác định “Trẻ em là người dưới 18 tuổi”. Tương tự, hầu hết các quốc gia Châu Âu, Bắc Mỹ đều xác định độ tuổi dưới 18 tuổi là trẻ em [49, 66]. Hiện nay trên thế giới chỉ còn 11 nước, trong đó có 4 nước ở khu vực châu Á vẫn quy định về tuổi pháp lý của trẻ em thấp hon 18 tuổi (Nepal, Bắc Triều Tiên quy định 17 tuổi, Iran quy định 9 tuổi đối với nữ và 15 tuổi đối với nam).

Các quốc gia trên thế giới và trong khu vực đều điều chỉnh tuổi quy định pháp lý về trẻ em ở tuổi 18. Ở châu Á, các quốc gia như Bangladesh, Lào, Campuchia,. đều quy định tuổi trẻ em cao hơn Việt Nam. Ọuốc gia châu Á gần đây nhất điều chỉnh quy định pháp luật quốc gia về tuổi trẻ em tương đồng với quy định pháp luật quốc tế là Bangladesh [28].

Khái niệm trẻ em được quốc tế sử dụng tương đối thống nhất và được đề cập trong nhiều văn kiện quốc tế, như Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ về quyền trẻ em năm 1924 cho đến Công ước của Liên hợp quốc tế về quyền trẻ em (CRC) năm 1989. Trong luật nhân quyền quốc tế, quyền trẻ em được chế định chủ yếu trong Công ước về quyền trẻ em năm 1989 và 2 nghị định thư không bắt buộc bổ sung CRC được thông qua năm 2000 (Nghị định thư về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em, Nghị định thư về sự tham gia cùa trẻ em trong xung đột vũ trang). Trong các văn kiện trên khái niệm “trẻ em” đều được xác định là những người dưới 18 tuồi. Tuy nhiên, đây là một điều luật mở cho các quốc gia thành viên.

Theo đó, các quốc gia thành viên có thế quy định độ tuối được coi là trẻ em thấp hơn 18 tuổi so với quy định của CRC. Việt Nam là một trong nhừng quốc gia đầu tiên tham gia ký Công ước quốc tế về quyền trẻ em CRC (ngày 28/02/1990). Quyền trẻ em được quy định trong Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992, và năm 2013. Quyền trẻ em cũng được thể chế hóa trong nhiều bộ luật và luật, quy định cụ thể và tập trung nhất vào Luật trẻ em năm 2016, sửa đồi bổ sung năm 2018.

Ó Việt Nam, khái niệm trẻ em chính thức được để cập trong Pháp lệnh Bảo 9 vệ chăm sóc sức khởe gia đình trẻ em năm 1979: “Trẻ em nói trong Pháp lệnh này gồm các em từ mới sinh đến 15 tuổi” (Điều 1). Sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC), Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ chăm sóc trẻ em năm 1991, trong đó quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuối. So với Pháp lệnh năm 1979, độ tuổi của trẻ em đã được nâng từ 15 lên 16 tuổi và không xác định trẻ em chỉ được tính từ khi mới sinh ra mà được xác định sớm hơn. Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004 tiếp tục xác định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuối.

Theo quy định này, những trẻ em dưới 16 tuổi là công dân Việt Nam mới được hưởng đầy đú các quyền cả bốn phận của trẻ em. Luật trẻ em năm 2016, sửa đổi bổ sung năm 2018 quy định: “ Trẻ em là người dưới 16 tuổi”. Qua khái niệm này, chúng ta thấy có sự thay đổi so với trước đây, đó là tất cả trẻ em dưới 16 tuổi, không phân biệt là công dân Việt Nam hay người có quốc tịch, người không có quốc tịch ở lãnh thổ Việt Nam đều được bảo vệ chăm sóc và giáo dục như nhau. Qua quy định về độ tuổi trẻ em cho thấy, pháp luật Việt Nam ngày càng hài hòa hơn với pháp luật quốc tế trong bối cảnh hội nhập.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có nhiều vãn bản đề cập tới trẻ em thì thường dùng từ “người” hoặc “người chưa thành niên” và xác định độ tuổi rất khác nhau. Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định người chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi (Điều 18); Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 qui định người từ đủ 14 tuổi đã phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12); Bộ luật Lao động năm 2019 quy định người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi (Điều 143); Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định tuổi chịu trách nhiệm hành chính là người từ đủ 14 tuổi trở lên (Điều 5). Những quy định này cho thấy, độ tuổi của người chưa thành niên theo quy định của pháp luật Việt Nam trùng với quy định về độ tuổi của trẻ em theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC). Trẻ em theo Công ước quốc tế về quyền trẻ em CRC và người thành niên theo pháp luật Việt Nam đều là những người chưa trưởng thành, còn non nớt cả về thế chất và trí tuệ, cần nhận được bảo vệ đặc biệt.

Vì vậy, trong một chừng mực nhất định, thuật ngữ người chưa thành niên và thuật ngữ trẻ em có cùng một ý nghĩa 10 9 • ' r ' A - 9 dùng đê chỉ những người chưa trưởng thành. Nhưng nêu xét dưới góc độ tuôi thì khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm trẻ em, tức là người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Đê đáp ứng những yêu câu đặt ra trong công tác bảo vệ trẻ em, khăc phục dần những “khoảng trống” trong thực tiễn áp dụng pháp luật đế phù hợp với pháp luật quốc tế, Quốc hội đã thông qua Luật Thanh niên 2020, trong đó quy định nhà nước thực hiện điều ước quốc tế về quyền trẻ em (CRC) đối với thanh niên từ đủ 16 tuối đến dưới 18 tuối phù hợp với điều kiện Việt Nam. Dù quy định như vậy nhưng chúng ta thấy rằng, ở lứa tuổi này tâm lý đang trong thời kỳ phát triển nhanh chóng và chưa ổn định, dễ bị tổn thương, dễ thay đổi, dễ uốn nắn và còn phụ thuộc; các em ham khám phá, học hỏi, ham hoạt động và ấp ủ đầy ước mơ, hoài bão nhưng cũng rất hay tự ái, có tính hiếu kỳ, háo thắng, thiếu tự tin, thiếu kiên nhẫn và thiếu trải nghiệm, kinh nghiệm thực tế, nhất là ở giai đoạn từ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Vì vậy, trẻ em vẫn rất cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt hơn, chu đáo hơn để định hướng các em phát triển bình thường. Tuy nhiên, trong luận văn này, thuật ngữ “ trẻ em” được áp dụng cho tât cả 7 __ ____ những người dưới 16 tuôi theo quy định Luật Trẻ em. Khái niệm “quyền” hiểu theo nghĩa tiếng Việt, là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành. khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại.

về khái niệm khoa học, “Quyền” là nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một xà hội nhất định. Khái niệm “Quyền” chỉ liên quan đến hành động - mà cụ thể là liên quan đến tự do hành động, nghĩa là thoát khỏi những cưỡng chế về mặt thế xác, thoát khỏi tình trạng bị ép buộc hay bị can thiệp bởi những người khác. Đối với mỗi cá nhân, quyền ụ là sự♦ thừa nhận ' JL • về mặt •• đạo đức đối một •••sự chọn lựa tích cực - được tự do hành động theo lý trí, vì các mục tiêu riêng, do sự lựa chọn riêng tự nguyện, không bi cưỡng ép. Đối với nhũng người xung quanh, các quyền của cá nhân đó không áp đặt nghĩa vụ nào lên nhũng người xung quanh ngoại trừ một quyền phủ quyết, họ không được vi phạm các quyền cùa cá nhân đó.

11 Quyên là một khái niệm được dùng đê miêu tả một nguyên tăc có liên quan đến những lợi ích cơ bản mà con người được hưởng, không phân biệt đặc điểm hay hoàn cảnh cá nhân đó.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ