Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HỘ NHTT 1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng của NHTT 1. Khái niệm Mặc dù không phổ biến và đƣợc nhiều ngƣời biết đến nhƣ nhãn hiệu thông thƣờng, NHTT cũng có vị trí và vai trò riêng của nó. Để hiểu khái niệm thế nào là NHTT, trƣớc tiên chúng ta cần hiểu khái niệm về nhãn hiệu.
Trƣớc khi Luật sở hữu trí tuệ ra đời, Nghị định 63/CP năm 1996 cũng đã có giải thích nhƣng chƣa đƣa ra khái niệm về nhãn hiệu hàng hóa (Nghị định 63 sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu hàng hóa”). Tuy nhiên, những giải thích này còn sơ sài và chƣa hiểu đúng bản chất thế nào là nhãn hiệu. Nghị định có giải thích “Nhãn hiệu hàng hoá” đƣợc hiểu là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ. Thay vì giải thích thế nào là nhãn hiệu hàng hóa, nghị định chỉ đƣa ra giải thích về mặt nội dung bao hàm của nhãn hiệu hàng hóa là bao gồm cả nhãn hiệu dịch vụ.
Khắc phục những thiếu sót của Nghị định 63, Luật sở hữu trí tuệ 2005 (SHTT) đã đƣa ra khái niệm của nhãn hiệu trong phần giải thích từ ngữ nhƣ sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”. Theo quy định của Luật SHTT, nhãn hiệu trƣớc hết là một dấu hiệu. Dấu hiệu để đăng ký đƣợc với danh nghĩa là nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy đƣợc dƣới dạng chữ cái, chữ số, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó đƣợc thể hiện bằng một hoặc một số màu sắc nhất định. Theo quy định nêu trên, thì những dấu hiệu không nhìn thấy đƣợc hoặc không đƣợc thể hiện dƣới dạng vật chất nhất định thì sẽ không đƣợc dùng làm nhãn hiệu.
Quy định này đã loại trừ các loại nhãn hiệu là nhãn hiệu mùi vị hay âm thanh.Luật nhãn hiệu Mỹ khi coi các dấu hiệu đƣợc sử dụng làm nhãn hiệu bao gồm cả dấu 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hiệu mùi vị, âm thanh. Do vậy, chúng ta có thể thấy rằng quy định của Mỹ đã mở rộng phạm vi hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam. Nhƣng không phải bất kỳ dấu hiệu nào cũng có thể đƣợc sử dụng làm nhãn hiệu mà dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau. Chức năng phân biệt là một yếu tố quan trọng khi xác định một dấu hiệu làm nhãn hiệu của một chủ thể.
Mặc dù NHTT không phổ biến nhƣ nhãn hiệu thông thƣờng nhƣng nó cũng có những đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của các sản phẩm, dịch vụ mang NHTT. Cũng giống nhƣ nhãn hiệu, trƣớc khi Luật SHTT ra đời, Nghị định 63 cũng đã đƣa ra một khái niệm về NHTT trong phần giải thích từ ngữ nhƣ sau: “NHTT là nhãn hiệu hàng hoá đƣợc tập thể các cá nhân, pháp nhân hoặc các chủ thể khác cùng sử dụng, trong đó mỗi thành viên sử dụng một cách độc lập theo quy chế do tập thể đó quy định”. Theo quy định của Nghị định 63 nêu trên thì NHTT là nhãn hiệu hàng hóa và đƣợc tập thể các cá nhân, pháp nhân cùng sử dụng theo một quy chế do tập thể quy định. Quy định này của Nghị định chỉ nêu bật đƣợc NHTT là gì và chủ thể của nhãn hiệu này là ai chứ không thể hiện đƣợc khả năng phân biệt của nhãn hiệu.
Trong khi đó khả năng phân biệt của nhãn hiệu là yếu tố vô cùng quan trọng khi xác định một dấu hiệu có phải là NHTT hay không. Khắc phục đƣợc các thiếu sót đó, Luật SHTT đã quy định tại điểm 17 của Điều 4 nhƣ sau: “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó”. Để hiểu rõ hơn khái niệm NHTT, chúng ta cần hiểu trƣớc tiên thế nào là “Tập thể”:“Tập thể là một nhóm chính thức có tổ chức, thống nhất, thực hiện mục đích chung, phù hợp với lợi ích xã hội” [24]. Tập thể là một “Nhóm” chính thức, nhƣng không phải bất cứ nhóm 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nào cũng là một tập thể.
Nhóm là một tập hợp ngƣời đƣợc thống nhất lại với nhau theo một mục đích và theo những mối quan hệ nhất định chẳng hạn nhƣ mối quan hệ công việc, học tập, vui chơi. Nhóm là một khái niệm rộng hơn tập thể. Chúng ta sẽ xem xét “Tập thể” dựa trên trên những dấu hiệu sau đây: Quan hệ tổ chức: Quan hệ tổ chức trong tập thể sẽ xác lập đƣợc những mối quan hệ rõ ràng, chặt chẽ giữa chủ thể quản lý và các thành viên. Hoạt động vì mục tiêu và lợi ích chung của tập thể.
Quyền và nghĩa vụ của chủ thể quản lý và thành viên đƣợc quy định chính thức và đƣợc tuân thủ chặt chẽ. Quan hệ quản lý: Trong tập thể có sự phân chia chức năng, quyền hạn, trách nhiệm cụ thể. Trong đó chủ thể quản lý sẽ chịu trách nhiệm điều hành, kiểm soát việc tuân thủ các quy định mà tập thể đã đặt ra, xử lý các hành vi vi phạm do việc không tuân thủ hoặc làm trái các quy định của tập thể.Hoạt động của các thành viên sẽ tuân theo sự quản lý của chủ thể quản lý và theo một sự chỉ đạo thống nhất có kế hoạch, có kỷ luật, quy chế hoạt động rõ ràng. Quan hệ tài chính: Quan hệ tài chính trong tập thể sẽ hình thành nên các quỹ tiền tệ và hình thành nên mối quan hệ trong việc sử dụng và phân phối các quỹ tiền tệ.
Lợi ích trong tập thể đƣợc phân chia công bằng cho các thành viên. Mục đích hoạt động: Thực hiện một mục đích chung mà tập thể đề ra, phù hợp với sự phát triển và lợi ích của xã hội. Những đặc điểm riêng của “Tập thể” nêu trên sẽ tạo nên những điểm khác biệt trong vấn đề sở hữu, trong tổ chức quản lý và sử dụng của NHTT mà chúng ta sẽ tìm hiểu ở những phần sau. Tuy nhiên, từ khái niệm NHTT sẽ thấy những điểm khác nhau so 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với nhãn hiệu thông thƣờng.
Sự khác nhau đó đƣợc thể hiện trên các khía cạnh nhƣ sau: Về chủ sở hữu: Không giống nhƣ nhãn hiệu thông thƣờng, chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức, NHTT quy định chủ sở hữu chỉ có thể là tổ chức. Quy định này đã loại trừ cá nhân hoặc thƣơng nhân là cá nhân đƣợc tham gia làm chủ sở hữu NHTT. Bởi lẽ, chức năng phân biệt ở của NHTT khác so với chức năng phân biệt của nhãn hiệu thông thƣờng. NHTT dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của thành viên của tổ chức là chủ sở hữu với tổ chức, cá nhân khác không phải là thành viên của tổ chức.
Về chủ thể có quyền sử dụng: Không những là chủ sở hữu mà các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT đều có quyền sử dụng NHTT. Về chức năng phân biệt: NHTT dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Nếu nhãn hiệu thông thƣờng có quy định phân biệt hàng hóa dịch vụ của các chủ thể khác nhau (chủ thể ở đây có thể là giữa các cá nhân với các cá nhân, giữa các cá nhân với tổ chức hoặc giữa các tổ chức với tổ chức) thì NHTT chỉ phân biệt hàng hóa dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT đó với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó. Tức là chức năng phân biệt ở đây chỉ giới hạn cho các chủ thể là các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT với các tổ chức, cá nhân khác không phải là thành viên của tổ chức là chủ sở hữu NHTT đó.
Nhƣ vậy, có thể thấy mục đích phân biệt của NHTT khác so với nhãn hiệu thông thƣờng. Tìm hiểu quy định của quốc tế và các nƣớc chúng ta đều thấy những quy định khác nhau về NHTT dựa trên các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nƣớc. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (i) NHTT theo quy định của Công ước Paris Công ƣớc Paris có các quy định về NHTT nêu tại Điều 7bis. “Điều này buộc một nƣớc thành viên chấp nhận việc nộp đơn và bảo hộ theo các điều kiện cụ thể do nƣớc đó quy định, NHTT của “các hiệp hội”.
Đây là hiệp hội các nhà sản xuất, chế tạo, phân phối, bán hàng hoặc các thƣơng gia khác về hàng hóa đƣợc chế tạo hoặc sản xuất tại một nƣớc, khu vực địa phƣơng cụ thể hoặc hàng hóa có các đặc tính chung khác. NHTT của các quốc gia hoặc các cơ quan nhà nƣớc khác không chịu sự điều chỉnh của các quy định này. Để đƣợc áp dụng Điều 7bis, hoạt động của các hiệp hội sở hữu các NHTT phải không trái với pháp luật của nƣớc sở tại. Hiệp hội không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nƣớc sở tại, nhƣng việc đăng ký và bảo hộ NHTT của họ có thể bị từ chối nếu sự tồn tại của hiệp hội đó bị cho là trái với các quy định của pháp luật”.
Về chủ sở hữu: Do là những quy định khung để các nƣớc có những quy định riêng phù hợp với điều kiện của nƣớc mình nên chủ sở hữu NHTT đƣợc đề cập cũng mang tính khái quát, ví dụ phạm vi của “các hiệp hội” là chủ sở hữu NHTT đƣợc quy định trong Công ƣớc là hiệp hội các nhà sản xuất, chế tạo, phân phối, bán hàng hoặc các thƣơng gia khác. Công ƣớc cũng quy định “hiệp hội không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nƣớc sở tại, nhƣng việc đăng ký và bảo hộ NHTT của họ có thể bị từ chối nếu sự tồn tại của hiệp hội đó bị cho là trái với các quy định của pháp luật”. Quy định này cũng thể hiện bản chất là những quy định khung để mỗi nƣớc nƣớc thực hiện sao cho phù hợp với điều kiện của mình bởi lẽ “hiệp hội không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nƣớc sở tại”.