Chương 1 LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ NHÃN HIỆU TẬP THỂ 1. Nhãn hiệu tập thể và quyền sở hữu công nghiệp đối với nhãn hiệu tập thể 1. Khái niệm nhãn hiệu tập thể Cho đến nay, chưa có một điều ước quốc tế hoặc pháp luật quốc gia đưa ra định nghĩa thống nhất về NHTT. Theo WIPO thì “Nhãn hiệu tập thể thường được định nghĩa là các dấu hiệu phân biệt nguồn gốc địa lý, nguyên liệu, phương thức sản xuất hoặc các đặc điểm chung khác của hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác nhau sử dụng nhãn hiệu tập thể.
Chủ sở hữu có thể là một hiệp hội trong đó các doanh nghiệp là thành viên hoặc bất kỳ thực thể nào khác bao gồm cả một tổ chức công cộng hoặc hợp tác xã” [35]. Theo Hiệp hội nhãn hiệu quốc tế (INTA): “Một nhãn hiệu tập thể là một dấu hiệu cụ thể từ luật nhãn hiệu mà nguyên tắc tương tự của pháp luật như nhãn hiệu áp dụng. Trong vấn đề này, nó có thể bao gồm bất kỳ từ, tên, biểu tượng hoặc thiết bị, khẩu hiệu, thiết kế gói hoặc kết hợp những thứ này phục vụ để xác định và phân biệt cụ thể sản phẩm từ những người khác trên thị trường hoặc trong thương mại. Một âm thanh, màu sắc kết hợp, mùi hoặc hình ba chiều cũng có thể là nhãn hiệu trong một số trường hợp ” [ 26, tr.
Công ước Paris có các quy định về NHTT nêu tại Điều 7bis. “Điều này buộc một nước thành viên chấp nhận việc nộp đơn và bảo hộ NHTT của “các hiệp hội”, theo các điều kiện cụ thể do nước đó quy định. Đây là hiệp hội các nhà sản xuất, chế tạo, phân phối, bán hàng hoặc các thương gia khác về hàng hóa được chế tạo hoặc sản xuất tại một nước, khu vực địa phương cụ thể hoặc hàng hóa có các đặc tính chung khác. NHTT của các quốc gia hoặc các cơ quan nhà nước khác không chịu sự điều chỉnh của các quy định này.
Để được áp dụng Điều 7bis, hoạt động của các hiệp hội sở hữu các 7 NHTT phải không trái với pháp luật của nước sở tại. Hiệp hội không phải chứng minh rằng họ tuân thủ pháp luật của nước sở tại, nhưng việc đăng ký và bảo hộ NHTT của họ có thể bị từ chối nếu sự tồn tại của hiệp hội đó bị cho là trái với các quy định của pháp luật”. - Khái niệm về NHTT của Mỹ [22, tr. Mục 45 của Đạo luật Lanham của Hoa Kỳ về nhãn hiệu hàng hóa tại phần-15 U.
1127 nêu rõ: “nhãn hiệu tập thể được sử dụng bởi các thành viên của hợp tác xã, hiệp hội hoặc nhóm tập thể khác hoặc tổ chức và có ý định sử dụng trong thương mại và phân biệt với các thành viên không phải tập thể”. - Khái niệm NHTT của Anh [22, tr.13] Tại Điều 49 Luật nhãn hiệu của Anh có quy định về NHTT như sau: “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của thành viên của hiệp hội là chủ sở hữu của nhãn hiệu đó với những người thuộc các doanh nghiệp khác”. - Khái niệm NHTT của Trung Quốc [22, tr.14] Luật nhãn hiệu Trung Quốc có quy định về NHTT tại Điều 3 như sau: “NHTT là nhãn hiệu được đăng ký dưới tên của một nhóm người, một hiệp hội hoặc bất kỳ một tổ chức nào khác sử dụng trong công việc kinh doanh bởi các thành viên của tổ chức đó”. - Khái niệm nhãn hiệu tập thể tại Việt Nam Đi từ sự hình thành khái niệm nhãn hiệu ở nước ta, trước khi Luật sở hữu trí tuệ ra đời, BLDS điều chỉnh về quyền SHTT trong đso có nhãn hiệu nhưng không định nghĩa về NHTT mà chỉ ghi nhận tại văn bản hướng dẫn.
Luật sở hữu trí tuệ (SHTT) 2005 được ban hành đã đưa ra khái niệm của nhãn hiệu trong phần giải thích từ ngữ như sau: “Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau” (Khoản 16, điều 4 ). 8 Theo quy định của Luật SHTT, nhãn hiệu là một dấu hiệu. Để đăng ký được với danh nghĩa là nhãn hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, hình vẽ, chữ số, hình ảnh, hình ba chiều hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố đó được thể hiện bằng một hoặc một số màu sắc nhất định. Nhưng không phải bất kỳ dấu hiệu nào cũng có thể được sử dụng làm nhãn hiệu mà dấu hiệu đó phải có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau.
Chức năng phân biệt là một yếu tố quan trọng khi xác định một dấu hiệu làm nhãn hiệu của một chủ thể. Theo quy định của Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009, sửa đổi bổ sung năm 2018 tại Điều 4, khoản 17 : “NHTT là nhãn hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó với hàng hoá, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức đó” [3, tr.2] Mặc dù mỗi quốc gia đều có quy định của mình về NHTT cho phù hợp với điều kiện riêng của từng nước và phù hợp với quy định của quốc tế. Nhưng điểm chung trong quy định về NHTT của các nước là các nước đều đưa ra quy định chủ sở hữu NHTT phải là một tổ chức hoặc một nhóm người và chức năng phân biệt là yếu tố quan trọng khi xem xét một dấu hiệu được đăng ký làm NHTT. Ở Việt Nam theo quy định của luật SHTT thì “nhãn hiệu” đã có chức năng dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức và cá nhân khác nhau.
Đối với NHTT thì đặc điểm khác với nhãn hiệu thông thường là để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên trong “tổ chức” với các sản phẩm hàng hóa không thuộc tổ chức đó. Bên cạnh quy định trên, đối với NHTT còn có một quy chế sử dụng nhãn hiệu được nộp cùng với hồ sơ đăng ký bảo hộ. Khái niệm nhãn hiệu tập thể hiện hành đã nêu được đặc điểm sở hữu của NHTT là tổ chức, nhưng chưa thể hiện rõ tính chất đặc trưng về đặc điểm 9 của NHTT như: Nguồn gốc địa lý, nguyên liệu, phương thức sản xuất … để thấy được sự khác biệt ngoài tiêu chí chủ sở hữu là một tổ chức. Do đó có thể đưa ra một khái niệm: Nhãn hiệu tập thể là nhãn hiệu dùng để phân biệt các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự được cung cấp bởi các nhóm cá nhân, tổ chức khác nhau.
Đặc điểm của nhãn hiệu tập thể Nhãn hiệu tập thể là dấu hiệu có tính phân biệt. Khả năng phân biệt của nhãn hiệu gắn với người tiêu dùng; thông qua đó họ có thể phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng loại của chủ thể khác nhau. Ban đầu, các loại nhãn hiệu không nhìn thấy bằng mắt thường thì không được coi là nhãn hiệu và không được bảo hộ. Thỏa thuận quốc tế đầu tiên, Công ước Paris năm 1883 về sở hữu công nghiệp có yêu cầu các quốc gia thành viên phải đảm bảo việc bảo hộ nhãn hiệu, tuy nhiên lại không đưa ra định nghĩa thế nào là nhãn hiệu mà dành quyền đó cho các quốc gia thành viên.
Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPs) trong khuôn khổ WTO quy định “bất kỳ một dấu hiệu, hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu hàng hoá. Các dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình hoạ và tổ hợp các mầu sắc cũng như tổ hợp bất kỳ của các dấu hiệu đó, phải có khả năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá … Các Thành viên có thể quy định rằng điều kiện để được đăng ký là các dấu hiệu phải là dấu hiệu nhìn thấy được” (Điều 15 Hiệp định TRIPs). Tuy nhiên, Việt Nam là thành viên Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP theo quy định tại mục C điều 18.18 CP TPP thì: “ Không Bên nào được yêu cầu, như một điều kiện để được đăng ký, là dấu hiệu phải nhìn thấy được, cũng như không Bên 10 nào được từ chối đăng ký một nhãn hiệu chỉ với lý do rằng dấu hiệu cấu thành nhãn hiệu đó là âm thanh. Thêm vào đó, mỗi Bên phải nỗ lực hết sức để đăng ký nhãn hiệu mùi.
Một Bên có thể yêu cầu phải có bản mô tả ngắn gọn và chính xác, hoặc bản thể hiện dưới dạng đồ họa, hoặc cả hai nếu phù hợp, của nhãn hiệu” [27, tr. Và theo cam kết thực thi CP TTP thì trong thời hạn 3 năm kể từ khi CP TTP có hiệu lực Việt Nam phải điều chỉnh các quy định để bảo hộ nhãn hiệu âm thanh [27, tr.18-63] Như vậy, đến năm 2021 chúng ta phải hoàn thiện khung pháp lý để thực hiện bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, trong đó có nhãn hiệu tập thể sử dụng âm thanh làm nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ. - Chủ sở hữu NHTT phải là một tổ chức. Đó là một đặc điểm khác với nhãn hiệu thông thường, chủ sở hữu có thể là cá nhân hoặc tổ chức.
Theo quy định tại Thông tư số: 01/2007/TT-BKHCN ngày 14/2/2007 của Bộ Khoa học và Công nghệ, Hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. Các tổ chức sau đây được coi là tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp theo quy định tại khoản 3, điều 87, Luật sở hữu trí tuệ [7; tr.45]: (i) Liên minh hợp tác xã; các hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã, nếu trong Điều lệ ghi rõ thành viên có hoạt động sản xuất, kinh doanh độc lập; (ii) Nhóm công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp; (iii) Hội theo quy định của pháp luật về hội, nếu trong Điều lệ ghi rõ thành viên của hội có hoạt động sản xuất, kinh doanh độc lập; - Việc sử dụng NHTT của các thành viên của tổ chức phải tuân thủ quy chế sử dụng. Quy chế này được nộp cùng với đơn đăng ký bảo hộ và phải được Cục sở hữu trí tuệ phê duyệt.