Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ QUYEN VÀ LỢI ICH HỢP PHÁP CUA NGƯỜI GUI TIEN CÁ NHÂN TẠI TO CHỨC TÍN DUNG VÀ PHÁP LUẬT VE BẢO VỆ QUYEN VÀ LỢI ICH HỢP PHAP CUA NGƯỜI GUI TIEN CÁ NHÂN TAI TO CHỨC TÍN DỤNG 1. Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cá nhân tại tổ chức tín dụng 1. Khái niệm, đặc điểm của quyền, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cá nhân tại tổ chức tín dụng 1. Khái niệm quyén, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cá nhân tại tổ chức tín dụng Đề làm rõ khái niệm quyền, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cá nhân tại TCTD, có lẽ trước hết cần làm rõ khái niệm NGT cá nhân tại TCTD là gì? Về khái niệm người gửi tiền cá nhân tại tổ chức tín dụng Trong bối cảnh thế giới hiện nay, kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt với những thách thức lớn như xung đột chính trị, vũ trang giữa Nga — Ukraine, áp lực lạm phát kéo dài.
Những yếu tố này chắc chắn có tác động mạnh mẽ đến các nền kinh tế, trong đó có nền kinh tế Việt Nam. Thực tế đó làm phát sinh nhu cầu cất giữ tiền của người dân tại các TCTD, trong đó chủ yếu là các ngân hàng thương mại (NHTM). Nắm bắt cơ hội đó, mỗi NHTM đều nhận thức rõ là phải quan tâm đến đối tượng khách hàng là NGT cá nhân, bởi vì, nếu không có NGT thì các NHTM không thé có nguồn vốn dé cấp tín dụng cho khách hàng nhăm thu lợi nhuận. Trong khoa học kinh tế, hoạt động nhận tiền gửi là một trong những nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cơ bản và luôn nhận được quan tâm bởi các TCTD.
Nghiệp vụ này có nội dung chủ yếu là giúp TCTD nói chung và NHTM nói riêng tiêp cận nguôn von rảnh roi của khách hàng thông qua việc mở tài khoản cho khách hàng như tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tài khoản tiền gửi không kỳ hạn, tài khoản tiết kiệm an sinh. với cam kết ngân hàng có thê chỉ trả cho khách hàng một khoản tiền lãi nhất định. Trong pháp luật thực định ở Việt Nam hiện nay, nhà làm luật cũng chưa đưa ra định nghĩa chính thức về NGT cá nhân, ngoại trừ một số thuật ngữ được giải nghĩa có liên quan đến NGT. Chăng hạn như, trước đây trong Quy chế tiền gửi tiết kiệm (ban hành kèm theo Quyết định số 1284/2002/QĐ- NHNN2 ngày 21/11/2002 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, hiện tại văn bản này đã hết hiệu lực) có định nghĩa: “Người gửi tiền là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm.
Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc đông chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, của dong chủ sở hữu tiên gửi tiết kiệm ”. Hiện nay, các văn bản mới có liên quan đến vấn đề gửi tiền tiết kiệm cũng không đưa ra định nghĩa chính thức nào về NGT cá nhân tại TCTD. Điều này dẫn đến sự khó khăn trong nhận thức và thực hiện pháp luật về huy động tiền gửi tiết kiệm của cá nhân ở Việt Nam. Từ những phân tích trên, có thể cho rằng khái niệm “người gửi tiền tại các tổ chức tin dụng” bao gồm các cá nhân, tô chức có giao dịch tiền gửi với TCTD, trong đó hình thức tiền gửi tiết kiệm chỉ dành cho khách hàng là cá nhân.
Ngoài ra, cá nhân cũng có thé là chủ thể tham gia giao dịch tiền gửi thanh toán tại tổ chức tín dụng. Về khái niệm về quyên, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cá nhân tai tổ chức tín dụng Nền kinh tế Việt Nam đã từng bước hội nhập sâu rộng với thế giới, đồng thời, đem đến cho chúng ta những cơ hội mới, phát huy tiềm năng và tốc độ tăng trưởng. Bên cạnh đó, nền kinh tế cũng chịu ảnh hưởng trước tác động từ bên ngoài cũng như bên trong. Những tác động của chính sách tiền tệ hay biến động về tài chính ảnh hưởng tới thị trường và tâm lý người tiêu dùng tài chính, đặc biệt là NGT.
Lúc này, quyền lợi của NGT được đặc biệt quan tâm trong hoạt động nhận tiền gửi. Trong từ điển Tiếng Việt, quyền lợi được hiểu là lợi ích được hưởng mà người khác không được xâm phạm đến. Như vậy, trong quá trình thực hiện giao dịch gửi tiền vào NHTM, thì NGT luôn có những lợi ích nhất định mà họ được hưởng và ngân hàng không được phép xâm hại. Hoạt động gửi tiền vào ngân hang thì NGT luôn có những quyên lợi do pháp luật quy định và ngân hàng phải thực hiện.
Như vậy, quyền lợi của NGT là quyền được hưởng những lợi ích mà NHTM phải đảm bảo để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng phát sinh từ giao dịch gửi tiền [65, tr. Tuy nhiên, quyền lợi của khách hàng chỉ được đảm bảo khi ngân hàng thực hiện đúng theo các yêu cầu thanh toán của mình trong thời gian đó khi họ gửi tiền nhằm mục đích thanh toán hoặc được đảm bảo số vốn an toàn và có lãi khi mục đích của họ là gửi tiết kiệm hoặc có kỳ hạn [23, tr. Vậy có thé hiểu, quyền lợi của NGT cá nhân là quyền được hưởng những lợi ích mà ngân hàng phải dam bảo dé thỏa mãn nhu cầu của khách hàng phát sinh từ giao dịch gửi tiền. Từ kết qua phân tích trên đây, có thé đưa ra khái niệm quyền và lợi ích hợp pháp của NGT cá nhân tại TCTD như sau: Quyên và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền cá nhân tại tổ chức tín dụng là những hành vi pháp lý của người gửi tiền cá nhân tại TCTD được pháp luật công nhận và bảo đảm thực hiện nhằm giúp chủ thể này đạt được các lợi ich chính đáng, hợp pháp khi xác lập giao dịch gửi tiền tại TCTD.
Xét về phương diện lý thuyết, quyền của NGT cá nhân tại TCTD luôn gắn liền với các lợi ích hợp pháp của họ khi xác lập giao dịch gửi tiền tại TCTD, vi dụ như quyền yêu cầu TCTD dam bảo an ninh, an toàn cho số tiền gửi; quyền yêu cầu TCTD trả gốc và lãi theo thỏa thuận, quyền yêu cầu TCTD bồi thường các thiệt hại xảy ra đối với mình do hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm hợp đồng của TCTD; quyền khiếu nại, khởi kiện TCTD hoặc người thứ ba theo quy định của pháp luật khi cho rang quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị các chủ thể này xâm phạm. Về quan hệ pháp luật nhận tiền gửi giữa người gửi tiền và tổ chức tín dung Quan hệ pháp luật về nhận tiền gửi bao gồm hai chủ thể là bên nhận tiền gửi và bên gửi tiền. Bên nhận tiền gửi là TCTD, bên gửi tiền là cá nhân, tổ chức trong xã hội có nguồn tiền rảnh rỗi chưa dùng đến và có nhu cầu gửi tiền dé đầu tư kiếm lời. Hợp đồng nhận tiền gửi được hai bên giao kết trên cơ sở tự nguyện, tự do thỏa thuận và ngay nay giao dịch này không còn giữ nguyên bản chất là giao dịch gửi giữ tài sản như thuở sơ khai, cùng với thời gian, nó đã thay đổi ban chat dé trở thành một giao dich cho vay tài sản, theo đó bên gửi tiền chuyển giao quyền sở hữu số tiền gửi của mình cho bên nhận tiền gửi (TCTD, trên thực tế chủ yếu vẫn là NHTM).
Khi xác lập giao dịch nhận tiền gửi với khách hàng, TCTD mong muốn được trao quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với số tiền mà khách hàng đã gửi dé thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình như cho vay, tích lũy nguồn vốn, cung cấp dịch vụ thanh toán cho khách hàng với tư cách là trung gian thanh toán. Trong quan hệ hợp đồng nhận tiền gửi, các bên giao kết hợp đồng này không chỉ thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ giữa các bên liên quan đến việc bảo đảm an toàn, anh ninh cho tài sản (tiền gửi), mà còn thỏa thuận với nhau về việc bên nhận tiền gửi (TCTD) được toàn quyền sở hữu số tiền gửi để chiếm hữu, sử dụng và định đoạt bằng cách cấp tín dụng thông qua các hình thức cho vay, chiết khấu giấy tờ có giá của khách hàng, bảo lãnh ngân hang, cho thuê tài chính, bao thanh toán và các hình thức cấp tín dụng khác. Như vậy, có thé cho rằng việc TCTD nhận tiền gửi của khách hàng thực 10 chất là hành vi TCTD vay tiền của khách hàng gửi tiền với cam kết đảm bảo an toàn, trả gốc và lãi cho số tiền gửi và trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích của NGT theo Điều 17 Luật các TCTD. Do là quan hệ vay tài sản nên TCTD đóng vai trò là bên vay, có nghĩa vụ trả gốc và lãi tiền vay; còn khách hàng gửi tiền tại TCTD đóng vai trò là bên cho vay, có quyền chủ nợ đối với TCTD và có quyền yêu cầu TCTD phải hoàn trả tiền gửi cho mình cả gốc và lãi theo thỏa thuận.
Đặc điểm của quyên, lợi ích hợp pháp của người gửi tién cá nhân tại tổ chức tín dụng Từ thé ky XVI — XVII, các ngân hàng sơ khai đã thực hiện những nghiệp vụ đầu tiên là lưu giữ, bảo quản các vật có giá (như tài sản bằng vàng, bạc). Trong giai đoạn này, do thường xuyên xảy ra chiến tranh, thiên tai nên người dân và đặc biệt là các thương nhân rất lo ngại việc mất mát tài sản của mình nên đã lựa chọn phương thức thuê các ngân hàng bảo quản, cất giữ cho mình các tài sản quý giá, đặc biệt là khi chuẩn bị có những chuyến đi xa. Tại thời điểm này, ngân hàng thực hiện nhiệm vụ chủ yếu là bảo quan tai sản cho khách hàng, không sử dụng nguồn vốn nhàn rỗi này dé kinh doanh nhằm thu lợi nhuận. Tuy nhiên, thực tế cho thấy về sau các ngân hàng đã bắt đầu sử dụng nguồn tài chính nhàn rỗi do khách hàng gửi tại ngân hang dé cho khách hàng khác vay nhằm thu lợi nhuận.
Điều đó khiến cho nó các khoản tiền gửi trở thành những khoản cho vay của NGT đối với ngân hàng và đó chính là khoản nợ của một ngân hàng đối với NGT. Trên thực tế, tiền gửi ngân hàng thường đề cập đến như là một khoản vay của ngân hàng từ NGT với trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi, thay vì chỉ coi đó là quan hệ gửi giữ tài sản như trong giai đoạn đầu hình thành các ngân hàng trong lịch sử.