Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA LAO ĐỘNG NỮ 1. Quyền của người lao động và quyền của lao động nữ 1. Quyền của người lao động Người lao động (Workers-NLĐ) là danh từ chỉ những người bỏ sức lao động của mình ra để thu lại một nguồn lợi tức nhất định từ chính sách lao động đó. Đó là các cá nhân trực tiếp tham gia vào quá trình lao động, có thế làm việc bằng sức lao động hay theo lao động trí óc.
Thông qua hành vi lao động trên thực tế mà được trả lương, làm việc dưới sự quán lý của người sử dụng lao động (NSDLĐ). Họ là những người làm công ăn lương, đóng góp hoặc bán sức lao động của mình cho NSDLĐ bằng cách thực hiện những nhiệm vụ, công việc cụ thể mà NSDLĐ đề ra và hoàn thành nó. Theo quy định của Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2019, NLĐ là đối tượng người nằm trong độ tuổi từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ [77, Điều 3, Khoản 1], Quyền của người lao động (quyền con người trong lao động- Workers' rights) trước hết là quyền con người (Human rights), xuất hiện khi con người có đủ khả năng và điều kiện lao động, liên quan đến quan hệ lao động (QHLĐ) giữa NLĐ và NSDLĐ. Quyền con người gồm quyền dân sự, quyền chính trị và quyền kinh tế, xã hội, văn hóa.
Dưới góc độ quyền con người, quyền cúa NLĐ nói chung và quyền của LĐN nói riêng là những quyền dân sự, quyền chính trị, quyền kinh tế, văn hoá và xã hội của NLĐ. Là hoạt động chủ yếu của con người, lao động có vai trò hết sức to lớn trong việc thúc đấy sự phát triển của xã hội và là cơ sở để con người có thể chăm lo cho sinh hoạt của bản thân và gia đình. Lao động là nội dung cơ bản của quyền con người. 6 Quyên của NLĐ là một phân không thê tách rời của hệ thông các quyên con người; vừa là quyền con người đồng thời cũng là quyền cơ bản và hợp pháp cùa công dân được pháp luật quốc tế, hiến pháp và pháp luật lao động (PLLĐ) các quốc gia ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm cả phương diện quyền cũng như nghĩa vụ.
Pháp luật ghi nhận và bảo vệ NLĐ với tư cách là bảo vệ quyền con người trong lình vực lao động. Vi quyền con người là phổ biến (Universal) và bất khả xâm phạm (Inalienable) cho nên nó loại trừ bất cứ điều gì xâm phạm đến quyền lao động của con người, kể cả quan niệm về phát triển kinh tế hay CNH không tránh khỏi mâu thuẫn với quyền lao động của con người. Dưới góc nhìn của luật nhân quyền, quyền lao động là vô cùng quan trọng và thuyết phục về mặt đạo đức; nhà nước có nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền của NLĐ. Quyền của NLĐ hình thành và phát triển gắn liền với quá trình CNH từ các nước phương Tây.
Trên phương diện pháp lý, “quyền của người lao động” đã được ghi nhận chính thức ở các văn kiện quốc tế trong thế kỷ XX như: Tuyên ngôn quyền con người năm 1948 (Universal Declaration of Human Rights-UDHR), Công ước quốc tể về các Quyền Dân sự và Chỉnh trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights-ICCPR), Công ước quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hoá năm 1966 (International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights-ICESCR). Trong đó, UDHR là một trong những văn bản quan trọng và phổ biến nhất; được xem là nền tảng cho các hành động của các chính phủ quốc gia, cá nhân và các tổ chức phi chính phủ. Tất cả các quốc gia trên thế giới đã phê chuẩn UDHR và coi đây là tiêu chuẩn quốc tế chung để ban hành pháp luật quốc gia. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hiệp ước Versailles thành lập Tổ chức Lao động quốc tế (International Labor Organization-ILO) là tổ chức quốc tế liên chính phủ dựa trên nguyên tắc “labour is not a commodity” (lao 7 động không phải là hàng hóa).
Sau khi Chiên tranh thê giới thứ hai kêt thúc, Hội Quốc Liên giải tán, ILO trở thành một thành viên của Liên hợp quốc (United Nations-UN), là một cơ quan đặc biệt liên quan đến các vấn đề về lao động. Theo các quy định của luật nhân quyền quốc tế (UDHR, ICCPR, ICESCR, các công ước của ILO), “quyền của người lao động” và “quyền của lao động nữ” là nhóm quyền cơ bản liên quan đến lĩnh vực và quan hệ lao động (giữa NLĐ và NSDLĐ), không định nghĩa một cách cụ thể mà được đề cập thông qua các quyền cụ thể có mổi quan hệ mật thiết và bổ trợ cho nhau góp phần bảo đảm tối đa quyền con người trong lĩnh vực lao động. Theo đó, quyền của NLĐ bao gồm các quyền, như: quyền được làm việc, được tự do lựa chọn việc làm (quyền không bị ép buộc, bóc lột hay cưỡng bức lao động); quyền được trả lương công bằng và được trả lương bằng nhau cho những công việc như nhau (quyền không bị phân biệt đối xử trong lao động); quyền được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống thất nghiệp; quyền được trả lương đù để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống xứng đáng với nhân phẩm; quyền được hưởng an sinh xã hội (ASXH) trong trường hợp thất nghiệp; quyền được thành lập và gia nhập công đoàn; quyền đình công.UDHR khẳng định: “mọi người đều có quyền làm việc, quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, được hưởng những điều kiện làm việc công bằng, thuận lợi và được bảo vệ chống lại nạn thất nghiệp” [52, Điều 23], Cụ thể hóa các quyền về làm việc trong UDHR, ICESCR được xem là văn kiện pháp lý quy định toàn diện nhất về quyền làm việc, trong đó xác định các yếu tố cốt lõi của quyền này, như: cơ hội làm việc; tự do lựa chọn việc làm; điều kiện làm việc thuận lợi; không phân biệt đối xử; quyền tự do thành lập và gia nhập công đoàn [54, Điều 6,7,8]. Công ước cũng yêu cầu các quốc gia thành viên “thừa nhận quyền làm việc, trong đó bao gồm quyền của tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự lựa chọn hoặc 8 chấp nhận, và các quốc gia phải thi hành các biện pháp thích hợp đế đảm bảo quyền này” [54, Điều 6] Mặc dù hiện nay các khái niệm về “quyền của người lao động” hay “quyền của lao động nữ” chưa có định nghĩa cụ thế.
Tuy nhiên, khái niệm “quyền của người lao động” đã được đề cập trong một số văn kiện pháp lý quốc tể và PLVN và một số công trình của các nhà khoa học. Cụ thể: (i) BLLĐ 2019, tuy không định nghĩa cụ thể thế nào là “quyền lao động” nhưng đã nói về “quyền và nghĩa vụ của người lao động” [77, Điều 5], Các quy định này đã bao gồm cơ băn nội hàm của “quyền lao động” theo cách hiểu cùa luật nhân quyền quốc tế. (ii) Theo PGS TS. Lê Thị Hoài Thu, về cơ bản có thể hiểu “Quyền con người trong lao động là những quyền con người liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động, bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng” [84], Từ những phân tích trên, có thể quan niệm: Quyền của NLĐ (hay quyền lao động) là quyền con người (quyền họp pháp), liên quan đến quan hệ lao động (QHLĐ) giữa NLĐ và NSDLĐ.
Các quyền này được hệ thong hóa trong luật Lao động và luật Việc làm trong nước vả quốc tế, hao gồm các quyền có moi quan hệ mật thiết và bổ trợ cho nhau góp phần bảo đảm quyền lợi tối đa của NLĐ. Một trong những diêm nôi bật nhất là quyền tự do hiệp hội, hay còn gọi là quyền tô chức: NLĐ được tô chức trong tô chức công đoàn thực hiện quyền thương lượng tập thê đê cải thiện điều kiện lao động. Quyền của lao động nữ Trong lịch sử phát triển của nhân loại, phụ nừ luôn là một bộ phận giữ vai trò không thể thiếu đối với gia đình và xã hội. Vai trò của con người trong xã hội là cơ sở đế hình thành nên quyền con người trong xã hội.
Pháp luật ghi nhận vai trò của mồi chủ thể, từ đó quy định quyền của họ nhằm đảm bảo cho 9 họ có thê thực hiện được tôt nhât vai trò của mình. Quyên của phụ nữ là tập hợp những khả năng pháp luật mồi quốc gia công nhận cho người phụ nữ được hưởng, được làm và được đòi hỏi. Phụ nữ cũng là con người nên về mặt pháp lý quyền phụ nữ là một bộ phận tất yếu của quyền con người; không bảo đảm thực hiện các quyền phụ nữ thì mới thực hiện được một nửa các quyền con người. Khi nói đến quyền phụ nữ là nói đen quyền bình đẳng của phụ nữ với nam giói trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Quyền phụ nữ cũng đồng thời là kết quả được tạo ra từ sự nỗ lực, tự giải phóng, tự đấu tranh của phụ nữ, đặc biệt quan trọng là giải phóng chính trị hướng tới dành quyền bình đẳng với nam giới cho phụ nữ. Là sản phẩm của sự phát triển và giá trị xã hội, quyền phụ nữ phản ánh sâu sắc những giá trị của chủ nghĩa nhân đạo và chủ nghĩa nhân văn trong lịch sử. Quyền phụ nữ cũng có tất cả nhũng đặc trung của quyền con người như tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể chia cắt, tính tương tác và phụ thuộc lẫn nhau.nhưng cần nhấn mạnh là quyền phụ nữ có tính phổ biến đối với phụ nữ [80, tr. Lao động nữ được hiểu là NLĐ có những đặc điểm riêng biệt so với lao động nam về tâm sinh lý và thế lực, mang những đặc trưng riêng về giới khi tham gia quan hệ lao động.
Chiếm hơn một nửa trong xã hội nhưng phụ nữ lại là đối tượng dễ bị tốn thương và chịu nhiều thiệt thòi nhất về sức khỏe, giáo dục, đào tạo, cơ hội việc làm và những nhu cầu khác. Nhìn chung, “trong những hoàn cảnh nghèo khố, phụ nữ là những người có ít cơ hội nhất trong việc hưởng lương thực, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo, các cơ hội về việc làm và các nhu cầu khác” [55]. Theo pháp luật nhân quyền quốc tế, phụ nữ được xem là nhóm dễ bị tổn thương- là nhóm người có đặc điểm và hoàn cảnh khiến họ có khả năng phải chịu nhiều tác động bất lợi hơn từ thiên tai so với những người khác trong cộng đồng.