Chương 1 nhũng vấn đề lý luận Cơ bản về bảo Vệ quyền dân sụ TRONG LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điêm, vai trò, cơ sở của bảo vệ quyên dân sự 1. Khái niệm bảo vệ quyền dân sự Lý luận chung về quyền con người, quyền dân sự cùng với các quyền chính trị được xếp vào thế hệ thứ nhất của quyền con người. Sự ra đời các quyền này gắn liền với giai đoạn phát triển các học thuyết về các quyền tự nhiên, với sự bùng nổ cách mạng đòi giải phóng con người, bão đảm quyền sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc.
Các quyền này được quy định tại Điều 2 đến Điều 21 Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới và trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Quyền dân sự được đề cập ở đây là quyền con người về dân sự, là các quyền mang những thuộc tính như: i) Tính thống nhất và gắn bó hữu cơ; ii) Tính không thể phân chia của quyền con người; iii) Tính không thể chuyển nhượng; iv) Tính phổ biến. Có thể hiểu Quyền dân sự, theo “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948” của Liên hợp quốc, được xem là những giá trị của tất cả mọi người mà các nhà nước phải tôn trọng, bảo vệ. Quyền dân sự thực chất là quyền tự do cá nhân, gắn liền với mồi cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, như: Quyền sống, quyền tự do và an ninh cá nhân; Quyền không bị bắt làm nô lệ; Quyền không bị tra tấn, quyền được đối xừ nhân đạo; Quyền tự do đi lại và cư trú; Quyền có quốc tịch; Quyền kết hôn và xây dựng gia đình.
Những quyền này đã được đưa vào Công ước quốc tế về các quyền dân sự - chính trị năm 1966. Qua nghiên cứu, có thể thấy cùng với cơ chế quốc tế bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, những chuẩn mực quốc tế về quyền con người hay còn gọi 9 là các quy phạm quôc tê vê các quyên và tụ do của con người là một trong hai bộ phận quan trọng nhất cấu thành luật nhân quyền quốc tế. Xét ở góc độ pháp điển hóa, các quyền và tự do cá nhân cơ bản được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR), sau đó, được tái khẳng định và cụ thể hóa trong những văn kiện quốc tế khác mà đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm 1966. Theo đó các nhóm Quyền Dân sự được phân chia thành 11 nhóm quyền sau đây: (1) Quyền sống: Được đề cập trong Điều 3 UDHR, Điều 6 ICCPR.
(2) Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đẳng trước pháp luật: Được quy định tại các Điều: 1, 2, 6, 7, 8 của UDHR và các Điều 2, 3, 16 và 26ICCPR. (3) Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục: Quyền này được đề cập ở Điều 5 UDHR, Điều 7 ICCPR (4) Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt làm nô lệ hay nô dịch: Quyền này được đề cập trong Điều 4 UDHR và Điều 8 ICCPR. (5) Quyền được bảo vệ để khởi bị bắt, giam giữ tùy tiện: Quyền này là cốt lõi của tự do và an toàn cá nhân, được quy định trong Điều 9 UDHR và Điều 9 ICCPR. (6) Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của người bị tước tự do: Quyền này được quy định trong Điều 10 ICCPR.
(7) Quyền về xét xử công bằng: Được đề cập trong các Điều 10 và 11 UDHR và các điều 14, 15 và 11 ICCPR. (8) Quyền về tự do đi lại, cư trú: Được đề cập trong điều 13 UDHR và Điều 12, 13 ICCPR. (9) Quyền được bảo vệ đời tư: Quy định trong Điều 12 UDHR và Điều 17ICCPR. 10 (10) Quyên tự do chính kiên, niêm tin, tín ngưỡng, tôn giáo: Được ghi nhận trong Điều 18 UDHR và Điều 18, 20 ICCPR.
(11) Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân: Quyền này được quy định tại Điều 16 UDHR, Điều 23 ĨCCPR và Điều 10 ICESCR. Ở Việt Nam, thuật ngữ quyền con người được nhắc đến đầu tiên bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945, người đã nhắc đến con người rồi suy rộng ra là quyền tự quyết của dân tộc làm căn nguyên cho cuộc đấu tranh giành độc lập của nước Việt Nam khỏi ách thống trị của chế độ thực dân và phong kiến. Việt Nam không có một bản tuyên ngôn nhân quyền riêng mà quyền con người được quy định nằm trong một phần của Hiến pháp.
Hiến pháp không chi đon thuần là văn bản quy định việc tổ chức nhà nước mà còn là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện nhân quyền, hay nói cách khác là thực hiện quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam. Điều này đã làm cho quyền con người mà biểu hiện là quyền công dân và Hiến pháp có sự gắn bó chặt chẽ, là cơ sở cho cuộc đấu tranh giành độc lập, giải phóng dân tộc. Giống như ở nhiều quốc gia khác, ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định những tư tưởng và đường lối chi đạo về quyền con người làm cơ sở cho việc bảo vệ và thúc đầy các quyền con người trên thực tế. Qua quá trình phát triển của các quy định Quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp Việt Nam từ trước đến nay ta có thể khái lược như sau: - Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam được ra đời vào năm 1946, tức là sau 01 năm dành được độc lập.
Điểm nồi bật của Hiến pháp 1946 là: Mặc dù ra đời ngay trong những năm đầu tiên khi chính quyền nhân dân con non trẻ, đang phải tập trung lo toan, ứng phó với các công việc chính trị trong nước cũng như ngoại giao với nước ngoài nhưng vẫn dành một sự quan tâm đặc biệt to lớn tới vấn đề quyền công dân. Điều này thể hiện ở chồ, mặc dù bản 11 Hiên pháp 1946 chỉ có 70 điêu nhưng đã dành hăn Chương II bao gôm 18 điều để quy định các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Các quyền dân sự của con người trong Hiến pháp được quy định gồm có: + Quyền bình đẳng: Quy định từ Điều 6 đến Điều 9: Gồm các quy định về bình đắng trên các phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, dân tộc và giới. + Quyền được tự do: Quy định tại Điều 10 và Điều 11: Gồm quy định về tự do ngôn luận, xuất bản, tín ngưỡng, cư trú.
và tự do về an ninh cá nhân. - Tiếp theo đó là Hiến pháp 1959 cũng quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong 01 Chương gồm 21 điều dựa trên sự kế thừa và phát triển các quy định của Hiến pháp 1946. Các quyền công dân được quy định thêm trong tất cả các lĩnh vực kinh tể, chính trị, xã hội, như: Điều 24 quy định: Quyền được bảo hộ của bà mẹ và trẻ em, bảo hộ hôn nhân và gia đình. Hiến pháp 1959 có những bước tiến mới trong việc ghi nhận các quyền con người, đã có những quy định the hiện một cách rõ ràng trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền của mình, “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền.” hay “Nhà nước quy định., để đảm bảo cho người lao động được hưởng các quyền đó.” [37], Điểm hạn chế trong việc quy định Quyền dân sự của Hiến pháp 1959 là bỏ qua việc kế thừa một số quyền rất tiến bộ được đề cập trong Hiến pháp 1946 là: Quyền của dân tộc thiểu số được nhà nước giúp đỡ, Quyền tự do ra nước ngoài.
Điều này làm cho quyền con người, quyền công dân, quyền dân sự trong Hiến pháp 1959 không được hoàn thiện. - Hiến pháp 1980 có 27 điều quy định quyền và nghĩa vụ của công dân, là những quy định được kế thừa và phát triển từ hai bản Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Các quyền và nghĩa vụ của công dân được quy định trong bản Hiến pháp 1980 rất đa dạng và phong phú, trải rộng trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Trong lĩnh vực quyền dân sự các quy 12 định mới của Hiên pháp 1980 bô sung thêm như: Điêu 62: Quyên có nhà ở; Điều 70, Điều 71, Điều 72: Quyền được bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chồ ở.
Điểm đặc biệt của Hiến pháp 1980 là các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân được xác lập trên cơ sở tư tưởng về quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Điều 54 Hiến pháp chỉ rõ: Quyền và nghĩa vụ của công dân thể hiện chế độ làm chú tập thể cùa nhân dân lao động, kết hợp hài hòa những yêu cầu của cuộc sống xã hội với tự do chân chính của cá nhân bảo đảm sự nhất trí về lợi ích giữa Nhà nước, tập thể và cá nhân theo nguyên tắc mỗi người vì mọi người, mọi người vì mồi người. Điều này khẳng định mối quan hệ không tách rời giữa Nhà nước và công dân, Nhà nước đảm bảo một cách tuyệt đối các quyền của công dân được thực hiện, nhưng ngược lại, công dân cũng phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, Hiến pháp 1980 lại không thừa nhận sở hữu tư nhân - một quyền về sở hữu tài sản, một quyền tự nhiên và là một quyền quan trọng nhất, thiêng liêng và bất khả xâm phạm cùa con người.
Trên thực tế, các quy định của Hiến pháp 1980 về quyền công dân đã không phản ánh đúng được tình hình thực tế của xã hội Việt Nam thời đó. Hiến pháp đã quy định một số quyền mang tính lý tưởng hóa quá mức, không có tính khả thi để thực hiện trong thực tế. Đó là quy định về nhà ờ (Điều 62), quy định về chế độ học không phải trả tiền (Điều 60), về chế độ khám chừa bệnh không phải trả tiền (Điều 61). Các quy định này chỉ có hiệu lực về mặt pháp lý - trong bản Hiến pháp chứ không có hiệu lực trên thực tế vì bản thân Nhà nước không thế có đủ điều kiện vật chất để đảm bào cho việc thực hiện nó.