Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo vệ người tố cáo và vai trò của điều chỉnh pháp luật theo pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tố cáo 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo vệ người tố cáo theo pháp luật Việt Nam 1. Khái niệm bảo vệ người tố cáo theo pháp luật Việt Nam Một số quan niệm chung về tố cáo Ở Việt Nam, tố cáo là một khái niệm xuất hiện từ khá lâu đời và được gắn liền với sự phát triển Nhà nước.
Nhà nước ra đời và điều hòa những mâu thuẫn của các giai cấp trong xã hội vàđể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các tầng lớp cho giai cấp đó. Nhà nước mang bản chất giai cấp, là tổ chức để thực hiện quyền lực chính trị của giai cấp thống trị. Bất kì Nhà nước nào muốn tồn tại và phát triển bền lâu cũng cần đến sự đồng thuận và ủng hộ từ phía người dân, dovậy trong hoạt động của mình, mọi nhà nước điều cần có những quy định về mặt phápluật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho công dân. Tại Điều 2 Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.
Quyền lợi của nhân dân luôn được Nhà nước đặt lên hàng đầu với mục tiên xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Tuy nhiên, trên thực tiễn vì nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn như lợi ích, tình cảm hay từ sự yếu kém của mình mà một số bộ phận nào đó đã vô ý hoặc cố tình làm sai, thậm chí là vi phạm nghiêm trọng những quy định của download by : skknchat@gmail.com 2 Nhà nước,của pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, xã hội. Chính vì để bảo đảm quyền lợi của công dân, đồng thời là để dễ dàng quản lý và sớm phát hiện được những sai phạm đó, đưa chúng ra ánh sáng và tìm ra biện pháp phù hợp để xử lý. Từ đó khái niệm tố cáo ra đời nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân cũng như lợi ích của Nhà nước.
Tùy theo mức độ, phạm vi và đối tượng, sẽ có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm tố cáo. Xét về phương diện xã hội thì tố cáo là việc báo cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Xét về phương diện tâm lý xã hội, tố cáo phản ánh ý thức tự giác, thái độ chủ động, tích cực của cá nhân với tư cách là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng, của xã hội trong đấu tranh, chống lại những hành vi, việc làm không đúng đắn, sai trái, gây tổn hại đến lợi ích công cộng. Xét về phương diện chính trị thì tố cáo là một quyền của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định, đây là phương thức để ngườidân thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, giám sát các hoạt động của bộ máy Nhà nước và bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội và công dân.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm tố cáo lần đầu tiên xuất hiện tại Luật khiếu nại tố cáo được quốc hội nước ta thông quangày 2/12/1998. Theo đó, tố cáo là: “Tố cáo là việc công dân theo thủtục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức”. Khái niệm, đặc điểm của tố cáo theo pháp luật Việt Nam download by : skknchat@gmail.com 3 Ở một số nước trên thế giới, tố cáo thường được pháp luật xác định theo nghĩa rộng, bao hàm cả tố giác về tội phạm, với thủ tục tố cáo tương đối đơn giản. Thậm chí, có quan niệm rộng hơn khi cho rằng đây là việc tiết lộ hay công bố một cách công khai hoặc bí mật thông tin về việc làm bất hợp pháp, trái quy tắc, nguy hiểm hoặc vô đạo đức của một chủ thể nào đó tới người có khả năng, xử lý, giải quyết hiệu quả.
Tuy nhiên, dường như có một điểm chung đó là, tố cáo được xem như là một hành động thể hiện sự tự do ngôn luận cá nhân, một công cụ chống tham nhũng, chống các hành vi vi phạm pháp luật. Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011 thì tố cáo là: “Tố cáo là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.” Hiện nay Luật Tố cáo năm 2018 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2019 quy định khái niệm tố cáo tại Khoản 1, Điều 2 như sau: “1. Tố cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: a) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; b) Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực.” Như vậy, theo quy định trên có thể thấy Luật tố cáo năm 2018 đã quy định cụ thể hai hành vi vi phạm pháp luật cụ thể khi thực hiện quyền tố trong khi đó khái niệm về tố cáo tại Luật tố cáo năm 2011 không thể hiện nội dung download by : skknchat@gmail. Đồng thời, Luật tố cáo năm 2018 đã thay đổi từ chủ thể có thẩm quyền thực hiện hành vi tố cáo từ công dân sang cá nhân để phù hợp với quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015.
Tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo năm 2018 có một số đặc điểm chủ yếu sau: Thứ nhất, về chủ thể tố cáo. Chủ thể có quyền tố cáo là cá nhân, là mọi người. Tuy nhiên, khi thực hiện việc tố cáo thì phải là cá nhân có danh tính, có địa chỉ rõ ràng (NTC có nghĩa vụ nêu rõ họ, tên, địa chỉ). Thứ hai, về đối tượng của tố cáo, là hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Những hành vi vi phạm pháp luật bị tố cáo bao gồm hai loại: hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ và hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực. Thứ ba, về nội dung tố cáo, là thông tin về hành vi vi phạm pháp luật trong đơn được gửi, chuyển đến hoặc trình bày trực tiếp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, tuy nhiên, đây không phải là việc cung cấp thông tin, phản ánh hay báo cáo một cách thuần túy mà phải tuân theo thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Có thể nói, tố cáo theo quy định của Luật Tố cáo hiện hành về bản chất chính là tố cáo hành chính (theo nghĩa rộng), là một quan hệ pháp luật hành chính. Điều này được lí giải như sau: Một là, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật có thể xảy ra ở nhiều cơ quan, tổ chức, lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nhưng tố cáo phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước và do cơ quan hành chính nhà nước xem xét, giải quyết vẫn là phần lớn và chủ yếu.
Một phần còn lại là những tố download by : skknchat@gmail.com 5 cáo trong các cơ quan, tổ chức khác song cũng đều là những tố cáo phát sinh trong hoạt động mang tính chất quản lý, điều hành ở các cơ quan, tổ chức này. Hai là, tố cáo được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tố cáo không bao hàm tố cáo trong hoạt động tư pháp, đó là những tố cáo trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, thi hành án hành chính, thi hành tạm giữ, tạm giam và trong trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Những tố cáo này được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng. Ba là, tố cáo được xem xét, giải quyết theo quy định của Luật Tố cáo cũng không bao gồm các tố cáo đối với hành vi vi phạm điều lệ, quy chế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế.
Các tố cáo loại này được thực hiện và giải quyết theo quy định của điều lệ, quy chế của tổ chức đó. Bốn là, đối tượng của tố cáo là hành vi vi vi phạm pháp luật song là những hành vi vi phạm pháp luật chưa phải là tội phạm. Những hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm là đối tượng của tố giác và tin báo về tội phạm, được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.