CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ LAO ĐỘNG NỮ VÀ PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ LAO ĐỘNG NỮ 1. Một số vấn đề chung về lao động nữ 1. Khái niệm lao động nữ Lao động là hoạt động chủ yếu của con người, đóng vai trò to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Do vậy các quy định về lao động chiếm một phần không nhỏ trong pháp luật của các quốc gia.
Tùy vào từng thời kỳ, đặc điểm phát triển mà mỗi quốc gia sẽ ban hành những quy định cũng như những chính sách riêng về lĩnh vực lao động, tuy nhiên nguyên tắc xây dựng chung đó là “đảm bảo quyền lợi thích đáng cho người lao động”. Theo các quy định về luật nhân quyền quốc tế, quyền của người lao động không được định nghĩa một cách cụ thể mà được liệt kê thông qua các quyền như: quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, quyền được đảm bảo điều kiện lao động hợp lý, quyền được trả thù lao hợp lý1….Các quyền này được đề cập trong các văn kiện quốc tế về quyền con người như: Hiến chương Liên hợp quốc; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR). Với việc tiếp cận khái niệm như trên mặc dù đã phán ánh về cơ bản đặc điểm của “quyền của người lao động”, đồng thời trong quá trình phát triển của luật nhân quyền quốc tế đã thường xuyên cập nhật các nhóm quyền mới tuy nhiên với “phương pháp liệt kê nhóm quyền” như trên chưa đưa ra được khái niệm tổng quan, cũng như chưa phản ánh được các yếu tố tác động trực tiếp đến “quan hệ lao động” như: tiền lương, điều kiện làm việc, an toàn lao động…. Bằng một cách tiếp cận khác, PGS.TS Nguyễn Lê Thu đã đưa ra định nghĩa một cách tổng quan hơn thông qua khái niệm “quyền con người trong lao động”, theo đó tác giả đề cập 1 Luật nhân quyền quốc tế, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Lao động – xã hội.
7 “quyền con người trong lao động là những quyền liên quan đến điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động bao gồm việc làm, tiền lương, an toàn lao động, hoạt động công đoàn, an sinh xã hội nói chung và bảo hiểm nói riêng”. Từ khi sinh ra, lao động nữ đã mang những đặc tính riêng mà chỉ bản thân họ mới có, điều đó tạo nên sự khác biệt giữa lao động nam và lao động nữ, do đó pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật lao động Việt Nam nói riêng luôn có những cơ chế, chính sách phù hợp để đảm bảo đầy đủ nhất về quyền lợi cho nhóm lao động đặc thù này. Tuy nhiên từ sự khác biệt về giới và tổng quan chung trong quan hệ lao động có thể hiểu “lao động nữ” là người lao động (NLĐ) mà xét về mặt giới tính được xác định là phụ nữ. Như vậy, cần xem xét khái niệm lao động nữ dưới các góc độ sau: Xét về mặt sinh học lao động nữ là NLĐ có “giới tính nữ”.
Về mặt bản chất, người lao động nữ khi tham gia quan hệ lao động được xác định là NLĐ khi họ có đầy đủ năng lực chủ thể của NLĐ, nghĩa là họ có năng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động. Năng lực pháp luật lao động là khả năng của cá nhân mà pháp luật quy định họ có quyền được làm việc, được trả công và được thực hiện những nghĩa vụ của NLĐ. Năng lực hành vi lao động là khả năng của cá nhân bằng chính hành vi của mình trực tiếp tham gia quan hệ lao động, gánh vác nghĩa vụ và hưởng quyền lợi của NLĐ. Như vậy, một người đủ 15 tuổi bình thường được coi là người có khả năng để tham gia quan hệ lao động.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, NLĐ vẫn có thể là người dưới 15 tuổi. Chẳng hạn như: trẻ em dưới 15 tuổi, có khả năng lao động cũng có thể được tham gia các quan hệ lao động trong những ngành nghề như múa, hát, sân khấu điện ảnh, thủ công mỹ nghệ. đồng thời phải thỏa mãn điều kiện nhất định về độ tuổi, sức khỏe, thời gian làm việc và công việc nhất định. Do đó, tác giả xin rút ra khái niệm về lao động nữ được hiểu như sau: Người lao động nữ là NLĐ có giới tính nữ, từ đủ 15 tuổi trở lên (trừ một số 8 trường hợp ngoại lệ), có khả năng lao động, làm việc theo Hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ.Khái niệm bảo vệ lao động nữ Bảo vệ lao động nữ là quá trình phòng ngừa, chống lại các nguy cơ xâm hại đến danh dự, nhân phẩm, thân thể, quyền và lợi ích chính đáng của lao động nữ từ phía NSDLĐ trong quá trình lao động.
Mục đích của việc bảo vệ lao động nữ là để đảm bảo sự bình đẳng giữa lao động nữ và lao động nam khi tham gia quan hệ lao động. Nội dung bảo vệ lao động nữ được xác định trên cơ sở nhu cầu chính đáng của họ như: vấn để việc làm, đào tạo, tuyển dụng; hợp đồng lao động; tiền lương và thu nhập; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và kỷ luật lao động; an toàn lao động và vệ sinh lao động; bảo hiểm xã hội. Một số vấn đề chung về pháp luật về bảo vệ lao động nữ 1.1 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với việc bảo vệ lao động nữ Trong lịch sử loài người từ trước đến nay, phụ nữ bao giờ cũng là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ đông đảo những NLĐ trong xã hội. Bằng sức lao động, óc sáng tạo của mình, phụ nữ đã góp phần làm giàu cho xã hội, làm phong phú cuộc sống con người.
Phụ nữ luôn thể hiện vai trò không thể thiếu của mình trong các lĩnh vực đời sống xã hội, nhất là trong lĩnh vực hoạt động vật chất, người phụ nữ là một lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải để nuôi sống con người. Không chỉ tái sản xuất ra của cải vật chất, phụ nữ còn tái sản xuất ra bản thân con người để duy trì xã hội. Tuy nhiên, những vấn đề tự nhiên cũng như các vấn đề xã hội phần nào đã hạn chế quyền tự do độc lập, tự do lao động, cơ hội thăng tiến mà lao động nữ thường chịu thiệt thòi hơn lao động nam trong quan hệ lao động. Hơn nữa, khi tham gia quan hệ lao động, lao động nữ cũng phải chịu áp lực tâm lý từ nhiều phía, từ công việc ở công sở đến công việc gia đình.
Xuất phát từ điều đó, PLLĐ đã có những quy 9 định riêng đối với lao động nữ, khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi cho đối tượng này khi tham gia vào quan hệ lao động. Từ đặc điểm của lao động nữ và thực trạng sử dụng lao động nữ hiện nay, một yêu cầu khách quan được đặt ra là sự cần thiết phải bảo vệ lao động nữ trong hệ thống PLLĐ. Mục tiêu cơ bản mà các quy định riêng của PLLÐ đối với lao động nữ hướng tới được thể hiện như sau: Dưới góc độ kinh tế, việc đặt ra những quy định bảo vệ lao động nữ nhằm tạo điều kiện cho họ tham gia vào các quan hệ lao động, tận dụng mọi tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho lao động nữ và gia đình của họ. Điều đó có vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn lực để phát triển kinh tế.
Dưới góc độ xã hội, việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ thể hiện tinh thần nhân đạo, đảm bảo công bằng xã hội. Dưới góc độ pháp lý, những quy định có tính hệ thống về bảo vệ lao động nữ trong hệ thông PLLĐ đã tạo thuận lợi cho việc áp dụng pháp luật. Các quy định về bảo vệ lao động nữ đã tạo ra hành lang pháp lý vững chắc để người lao động nữ có thể yên tâm làm việc từ đó phát triển kinh tế gia đình và xã hội. Có thể thấy rằng, việc bảo vệ lao động nữ là thật sự cần thiết trong việc thể chế hóa và đưa vào cuộc sống nguyên tắc nam nữ bình đẳng theo Công ước CEDAW.
Việc bảo vệ lao động nữ đã tạo điều kiện cho phụ nữ có thêm cơ hội và điều kiện tiến bộ, phát triển và thụ hưởng bình đẳng với nam giới. Do vậy, các quy định về bảo vệ lao động nữ không chỉ vì lợi ích riêng của đối tượng lao động này mà còn vì lợi ích của toàn xã hội.2 Nội dung cơ bản của pháp luật về bảo vệ lao động nữ Thứ nhất, pháp luật cần điều chỉnh bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực việc làm. Việc làm là điều quan tâm hàng đầu đối với mọi đối tượng mà không riêng LĐN. Việc pháp luật quy định về quyền sự do chọn việc làm; sự 10 bình bẳng cho công việc; các chính sách thúc đẩy cơ hội việc làm cho LĐN là điều rất cần thiết.
Qua những quy định của pháp luật đã tạo hành lang pháp lý cho LĐN tìm kiếm việc làm phù hợp với khả năng của bản thân mình. Thứ hai, pháp luật cần điều chỉnh bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập. Tiền lương và thu nhập là vấn đề tất yếu, giúp họ trang trải và ổn định cuộc sống. Các quy định về tiền lương và thu nhập sẽ giúp cân bằng được sức lao động của LĐN bỏ ra và lợi ích kinh tế họ thu về.
Vì trên thực tế, rất nhiều LĐN bị doanh nghiệp bóc lột sức lao động của LĐN gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của họ. Thứ ba, pháp luật cần điều chỉnh bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực an toàn lao động, vệ sinh lao động. Đảm bảo an toàn và vệ sinh lao động giúp đáp ứng những nhu cầu và đặc trưng riêng của LĐN. An toàn và vệ sinh lao động giúp tạo ra môi trường lý tưởng để LĐN yên tâm làm việc.
Các quy định của pháp luật về an toàn và vệ sinh lao động nhằm tạo ra quy chế để các doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ trang thiết bị máy móc, nơi ở, nơi nghỉ… cho LĐN. Thứ tư, pháp luật cần điều chỉnh bảo vệ lao động nữ trong lĩnh vực thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi. Việc cân đối thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi là điều vô cùng cần thiết. Thời gian làm việc đúng và đủ giúp họ mang lại thu nhập cho bản thân trên công sức lao động.