phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 2 chương 6 tiết. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ DÂN TỘC TÀY VÀ NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA PHI VẬT THỂ CỦA DÂN TỘC TÀY TUYÊN QUANG 1. Khái quát về dân tộc Tày Tuyên Quang 1. Dân số, nguồn gốc dân tộc Tày Tuyên Quang Về hành chính, Tuyên Quang gồm có 1 thành phố và 6 huyện, đó là các huyện: Yên Sơn, Sơn Dương, Hàm Yên, Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình.
Địa bàn cư trú của người Tày rải rác ở các huyện, nhiều nhất là ở huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình. Dân tộc Tày có số dân đông nhất trong các dân tộc thiểu số ở nước ta. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009: “Người Tày ở Việt Nam có dân số 1.392 người, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh: Lạng Sơn (259.532 người, chiếm 35,4% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Cao Bằng (207.805 người, chiếm 41,0% dân số toàn tỉnh và 25,2% tổng số người Tày tại Việt Nam), Tuyên Quang (185.464 người, chiếm 25,6% dân số toàn tỉnh và 22,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Hà Giang (168.719 người, chiếm 23,3% dân số toàn tỉnh và 20,5% tổng số người Tày tại Việt Nam), Bắc Kạn (155.510 người, chiếm 52,9% dân số toàn tỉnh và 18,9% tổng số người Tày tại Việt Nam), Yên Bái (135.314 người, chiếm 18,3% dân số toàn tỉnh và 16,4% tổng số người Tày tại Việt Nam), Thái Nguyên (123.197 người, chiếm 11,0% dân số toàn tỉnh và 15,0% tổng số người Tày tại Việt Nam), Lào Cai (94.243 người), Đắk Lắk (51.
Tày là tên đồng bào tự gọi và ngày nay trở thành tên gọi chính thức của dân tộc thay cho tên gọi “Thổ” trước kia. “Thổ” theo nghĩa đen có nghĩa là thổ dân, người bản xứ. Dân tộc Tày còn có các tên gọi khác theo nhóm địa phương là Thổ (tên cũ), Ngạn do mặc áo ngắn hơn, Phén mặc áo màu nâu, Thu Lao quấn khăn thành chóp nhọn trên đỉnh đầu, Pa Dí áo có thêu hoa văn ở cổ và vải vắt ngang ngực, ống tay được nối những đoạn vải màu, mũ hình mái nhà. Người Tày là cư dân định cư ở Việt Nam từ rất sớm, nhiều học giả và nhiều tài liệu đã khẳng định người Tày có mặt ở miền Bắc Việt Nam từ cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên.
Trong thư tịch cổ Trung 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quốc gọi các bộ lạc ở vùng phía Nam Trung Quốc và Bắc Việt Nam là Bách Việt. Bộ lạc Âu Việt của nhóm Tày – Nùng và bộ lạc Lạc Việt của nhóm Việt – Mường nằm trong Bách Việt, về sau liên minh với nhau thành Nhà nước Âu Lạc. Âu Lạc là tên chung lấy chữ đầu của Âu Việt và chữ đầu của Lạc Việt ghép thành. Như vậy, người Tày định cư rất sớm ở nước ta và còn là một trong những chủ nhân đầu tiên của nước Việt cổ.
Người Tày ở Tuyên Quang gồm người gốc Tày ở đây từ lâu đời, nhưng cũng có một bộ phận người được “Tày hóa” các dân tộc khác đến sống ở vùng người Tày với nhiều lý do khác nhau do được bổ nhiệm làm quan, là binh lính được điều lên đồn trú, lánh nạn do bị thất thế, do tha phương cầu thực … Họ đến ở, lấy vợ, lấy chồng người Tày chịu ảnh hưởng văn hóa Tày sâu sắc và trở thành người Tày. Ngoài ra, còn có người Tày ở các tỉnh lân cận di cư đến Tuyên Quang. Tại các huyện Chiêm Hóa, Na Hang, Lâm Bình, người Tày thường mang họ Hà, họ Quan, họ Quân, họ Nông. Theo tài liệu nghiên cứu về khảo cổ học, cách đây hàng vạn năm, Tuyên Quang đã có người cư trú.
Những vết tích về thời kỳ đồ đá tìm thấy ở Thúy Loa (Na Hang), Ngọc Hội (Chiêm Hóa), An Khang (Yên Sơn)… đã chứng minh điều đó. Qua tìm hiểu các gia phả để lại, dân tộc Tày có thể là dân tộc cư trú lâu đời nhất ở Tuyên Quang. Các dân tộc Cao Lan, Nùng, Hoa, Dao đến Tuyên Quang được khoảng vài ba trăm năm nay. Nhưng cũng có dân tộc mới đến Tuyên Quang được khoảng trên dưới 100 năm như: Sán Dìu, Sán Chí, Pà Thẻn… Theo số liệu thống kê, Tuyên Quang có trên 22 dân tộc anh em cùng sinh sống, chủ yếu là dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Sán Chay, Sán Dìu, Hoa, HMông, bao gồm: Tổng số dân STT Dân tộc (Ngƣời) 1 Kinh 338.090 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.014 9 Các dân tộc khác 2.781 Nguồn: Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Tuyên Quang năm 2010.
Người Tày, gọi cộng đồng cư trú của mình là bản, bản là đơn vị cư dân nhỏ nhất, là cộng đồng gắn kết các hộ gia đình với nhau, bản nhỏ dưới 10 hộ, bản trung bình từ 15 đến 20 hộ, bản lớn có khi 50 – 60 hộ. Các bản tập trung ở các địa hình khác nhau, có bản nhà này sát nhà kia, nhưng cũng có bản nhà ở theo cụm, theo hộ cách xa nhau. Người Tày định cư chủ yếu ở vùng thấp, đi lại thuận tiện, gần nguồn nước, gần đồng ruộng để tiện trồng trọt. Bản người Tày có nhiều cây ăn quả, cây bóng mát, cây lấy gỗ, lấy lá để lợp nhà.
Mỗi bản đều có trưởng bản, phụ nữ không làm trưởng bản do quan niệm phụ quyền đã sâu đậm trong đời sống đồng bào Tày. Người Tày đặt tên cho bản của mình rất giản dị họ thường lấy đặc điểm thửa ruộng, gốc cây to, khe suối … để đặt tên bản. Ví dụ bản Nà Đứa xã Thanh Tương (bản gần ruộng có cây sung), xã Đức Luân, bản Nà Diêm (bản gần ruộng có diêm sinh); xã Thượng Lâm, bản Nà Tông (bản cạnh cánh đồng), bản Chùa (bản gần chùa); xã Lăng Can, bản Khuổi Kịch (bản bên cạnh suối Kịch)… Nhiều vùng ở các huyện Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương đồng bào gọi cộng đồng cư trú của mình là làng. Ví dụ ở xã Hùng Lợi có làng Cóc, làng Nhà; xã Kim Quan có làng Hản; xã Tân Trào có làng Kim Long.
Hoạt động kinh tế 1. Kinh tế nông nghiệp Là người dân bản địa, người Tày quần cư và canh tác trên chính mảnh đất của mình. Hoạt động kinh tế nông nghiệp trồng trọt là chủ yếu. Người Tày có hai loại canh tác chính là làm nương rẫy và trồng lúa nước.
- Canh tác nương rẫy: Loại hình canh tác này hiện nay vẫn còn được duy trì do điều kiện tự nhiên và vùng đất định cư của người Tày liền kề với núi rừng, có nhiều mảnh đất màu mỡ, thuận lợi cho việc trồng lúa nương, ngô, khoai, sắn, bông, vừng, lạc… Không phải 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mất nhiều công chăm sóc mà các loại cây lương thực này vẫn đảm bảo năng suất cao nên trong nhiều năm đồng bào vẫn đốt nương rẫy để canh tác. Hạt giống thường được chọn từ vụ trước. Thóc giống về gặt bó thành cum, phơi khô để riêng trên gác bếp. Ngô giống chọn bắp hạt to đều, để cả vỏ, phơi khô, treo trên gác bếp để tránh mọt.
Các giống đậu chọn quả to, hạt chắc, phơi khô rồi cho vào quả bầu khô, đổ tro bếp lên trên, nút kín miệng bằng lá chuối khô. Người Tày khi tra lúa, ngô, đỗ và các loại hạt khác thì không cuốc hố mà dùng một cây thân gỗ vừa tay cầm, đầu vót nhọn dùng để chọc lỗ rồi bỏ hạt và lấp đất lại. Canh tác nương rẫy hoàn toàn phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, hạn hán, mưa lũ, gió lốc thường xuyên xảy ra. Vì vậy, đời sống của đồng bào ngày càng bấp bênh, phương thức canh tác này ngày càng không phù hợp.
Ngày nay, đồng bào Tày hầu như không còn trồng lúa nương nữa, họ chuyển sang trồng các loại cây lương thực khác ở đồi thấp như: ngô, khoai, sắn, đỗ … phục vụ cho chăn nuôi. - Canh tác lúa nước: Những thửa ruộng bậc thang của người Tày là nét nhấn, tô điểm cho bức tranh vùng sơn cước, là dấu ấn khó phai trong tâm trí những ai đến đây dù chỉ một lần. Khi canh tác lúa nước, người Tày không tra hạt như lúa nương mà gieo mạ để cấy giống như người Kinh. Đất gieo mạ được làm rất kỹ, cày bừa bằng trâu.
Khi cày bừa xong, người ta bón phân chuồng lên ruộng, sau đó mới bừa cho mặt ruộng phẳng, láng nước. Thóc để làm giống được chọn rất kỹ thuộc loại già, hạt mẩy và đều. Trước khi đem đi ủ mầm, thóc được ngâm trong nước khoảng 1 ngày, sau đó, đem ủ khoảng 2 đến 3 ngày, khi hạt nảy mầm đều thì đem ra ruộng gieo. Sau đó, họ dùng bù nhìn quấn bằng rơm dựng ở ruộng để xua đuổi chim khỏi ăn thóc.
Khi mạ gieo xong, để khoảng 4 ngày cho mầm thóc ổn định mới cho nước vào. Nước được lấy từ các hệ thống mương phai nội đồng, ở các ruộng bậc thang thì nước được lấy từ các cọn dẫn nước. Từ khi gieo mạ đến khi cấy thời gian khoảng 25 đến 30 ngày. Mạ nhổ được bó thành từng nắm vừa đủ để cầm tay.
Ruộng để cấy được cày bừa kỹ, khi làm ruộng người Tày sử dụng phân chuồng hoặc phân xanh để bón cho lúa. Ngày nay, nhờ áp dụng khoa học và cải tiến kỹ thuật, nên đồng bào đã sử dụng các loại phân đạm hóa học, thuốc trừ sâu để chăm sóc cho lúa, nhờ vậy nên năng suất tăng cao. Người Tày đã dùng loại lúa ngắn ngày để gieo trồng nên một số ruộng đã cho 2 vụ lúa trên một năm. Từ năm 1991, tỉnh Tuyên Quang có chủ trương đóng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cửa rừng tự nhiên, công việc canh tác lúa nương chấm dứt, người Tày chỉ chuyên canh tác lúa nước và coi đó là nguồn sống chính của gia đình.
Ngoài ra, đồng bào còn trồng thêm hoa màu tham gia trồng và bảo vệ rừng góp phần “phủ xanh đất trống, đồi núi trọc”. Kinh tế hộ gia đình - Chăn nuôi: Chăn nuôi là một hoạt động kinh tế quan trọng sau trồng trọt. Trước đây, người Tày vẫn chú ý đến việc chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm như trâu bò, lợn, gà, ngan, vịt, dê … nhưng vẫn mang tính tự nhiên chăn thả. Rất ít khi đồng bào Tày làm chuồng trại kiên cố và việc chăm sóc vật nuôi cũng không được chu đáo nên năng suất và hiệu quả kinh tế không cao.
Trong số các loại gia súc lớn, trâu là loại vật nuôi được phổ biến nhất.