Chương 1: Quản lý Nhà nƣớc về bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số- một số vấn đề lý luận Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nƣớc về bảo tồn phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Chương 3: Một số giải pháp quản lý Nhà nƣớc về bảo tồn phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai trong thời gian tới. 6 Luan van Chƣơng 1 QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO TỒN PHÁT TRIỂN VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm cơ bản 1.1 Quản lý Quản lý là sự điều khiển chiến thuật các hoạt động trong xã hội bằng thể chế pháp luật, chính sách, bộ máy quản lý nhà nƣớc, ban hành căn cứ theo đƣờng lối, chị thị, nghị quyết của Đảng.
Trong quản lý, chiến thuật này có sự quản lý của Chính phủ nói trung và sự quản lý của từng ngành, từng bộ nói riêng. Muốn quản lý tốt, đúng hƣớng, có hiệu quả, ngƣời quản lý cần nắm vững đƣờng lối, chính sách, nghị quyết, pháp luật v. của Đảng và Nhà nƣớc, đồng thời phải thành thạo quy trình vận hành quản lý có khoa học. Quản lý nhà nước Theo GS.TS Đinh Văn Tiến trong bài nghiên cứu Phân biệt các khái niệm Quản trị nhà nƣớc, Quản lý nhà nƣớc và Quản lý hành chính nhà nƣớc đăng trên tạp chí Quản lý nhà nƣớc số 225 (tháng 1/2015) [25]cho biết Quản lý nhà nƣớc hiểu theo nghĩa rộng là hoạt động tổ chức điều hành của cả bộ máy nhà nƣớc theo ba quyền lực lập pháp, hành pháp và tƣ pháp tác động điều hành đến các tổ chức và cá nhân trong mọi hoạt động xã hội, nội dung cơ bản của hoạt động này bao gồm xây dựng hệ thống pháp luật thể chế; tổ chức bộ máy điều hành và cơ chế hoạt động; phát triển nhân sự (cán bộ, công chức, viên chức); phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính công.
Sự quan tâm chủ yếu của quản lý nhà nƣớc có đƣợc hiệu lực, hiệu quả thông qua việc xác định, phân định thẩm quyền, phân công, phân nhiệm, tổ chức thực hiện thẩm quyền bằng những biện pháp khuyến khích và cƣỡng chế thông qua cơ chế vận hành bộ máy, quy trình và các công vụ quản lý nhà nƣớc. Theo nghĩa hẹp quản lý nhà nƣớc là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc đối với xã hội và hành vi hoạt động của con 7 Luan van ngƣời theo pháp luật nhằm đạt mục tiêu. Quản lý nhà nƣớc mang tính chất chấp hành, điều hành nhằm xây dựng tổ chức bộ máy, chế độ công vụ. Văn hóa Văn hóa là một hệ giá trị vật chất và tinh thần, do con ngƣời sáng tạo ra gắn liền và xuất phát dựa trên các hoạt động thực tiễn của xã hội.
Văn hóa là một khái niệm rộng đƣợc bắt nguồn từ chữ La tinh: “Cultura” có nghĩa là sự cày cấy, vun trồng. Cùng với quá trình phát triển văn hóa ngày càng có nội dung phong phú và có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Các nhà nghiên cứu đã đƣa ra nhiều khái niệm để phản ánh các góc độ của văn hóa. Bản chất của văn hóa rộng và đa dạng, do vậy, các khái niệm về văn hoá chỉ mang tính chất tƣơng đối.
Theo nghĩa hẹp, văn hoá đƣợc giới hạn theo chiều sâu hoặc theo chiều rộng, theo không gian hoặc theo thời gian. Giới hạn theo chiều sâu, văn hóa đƣợc hiểu là những giá trị tinh hoa của nó (nếp sống văn hoá, văn hoá nghệ thuật v. Giới hạn theo chiều rộng, văn hoá đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng lĩnh vực (văn hoá giao tiếp, văn hoá kinh doanh v. Giới hạn theo không gian, văn hoá đƣợc dùng để chi những giá trị đặc thù của từng vùng (văn hoá Tây Nguyên, văn hoá Nam Bộ v.
Giới hạn theo thời gian, văn hoá đƣợc dùng để chỉ những giá trị trong từng giai đoạn (văn hoá Hoà Bình, văn hoá Đông Sơn v. Theo nghĩa rộng, văn hoá thƣờng đƣợc xem-là bao gồm tất cả những gì do con ngƣời sáng tạo ra. Năm 1940, Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhẳm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”. Theo quan điểm của Unesco: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hóa là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc 8 Luan van cảm quyết định tinh cách của một xã hội hay một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngƣỡng”. Trong diễn văn khai mạc lễ phát động “Thập niên thế giới phát triển văn hóa” tại Pháp ngày 21/01/1998, ngài Tổng thƣ ký Unesco cũng từng phát biểu: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động dân tộc trong quá khứ cũng nhƣ trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo đó đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định riêng biệt của mỗi dân tộc”. Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ƣơng lần thứ V (khóa VIII), Đảng ta xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội” và xác định: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cƣờng dựng nƣớc và giữ nƣớc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lƣu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc”. Nhƣ vậy, văn hóa có nhiều khái niệm khác nhau dƣới nhiều góc độ khác nhau.
Quan trọng nhất văn hóa đƣợc xem nhƣ là tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra phục vụ nhu cầu sống của con ngƣời trong quá trình phát triển và là nền tảng tinh thần không thể thiếu trong đời sống của con ngƣời. Dân tộc thiểu số Dân tộc thiểu sổ là một khái niệm khoa học đƣợc sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay. Các học giả phƣơng Tây quan niệm rằng, đây là một thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học (minority ethnic) dùng để chỉ những dân tộc có dân số ít. Trong một số trƣờng hợp, ngƣời ta đánh đồng ý nghĩa “dân tộc thiểu số” với “dân tộc lạc hậu”, “dân tộc chậm tiến”, “dân tộc kém phát triển”, “dân tộc chậm phát triển” v.
Có nhiều nguyên nhân, trong đó có sự chi phối bởi quan điểm chính trị của giai cấp thống trị trong mỗi quốc gia. 9 Luan van Trên thực tế, khái niệm dân tộc thiểu số chỉ có ý nghĩa biểu thị tƣơng quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm dân tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc không phụ thuộc vào số dân nhiều hay ít, mà nó đƣợc chi phối bởi những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội và lịch sử của mỗi dân tộc.
Vận dụng quan điểm trên vào điều kiện cụ thể của cách mạng nƣớc ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định quan niệm nhất quán của mình: Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm 54 dân tộc thành viên, với khoảng trên 80 triệu ngƣời. Trong tổng số các dân tộc nói trên thì dân tộc Việt (Kinh) chiếm 86,2% dân số, đƣợc quan niệm là “dân tộc đa số”, 53 dân tộc còn lại, chiếm 13,8% dân số đƣợc quan niệm là dân tộc thiểu số trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Khái niệm dân tộc thiểu số, có lúc, có nơi, nhất là trong những năm trƣớc đây còn đƣợc gọi là “dân tộc ít ngƣời”. Mặc dù hiện nay đã có qui định thống nhất gọi là dân tộc thiểu số, nhƣng cách gọi “dân tộc ít ngƣời” vẫn không bị hiểu khác đi về nội dung.
Nhƣ vậy, khái niệm dân tộc thiểu số dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tƣơng quan so sánh về lƣợng dân số trong một quốc gia đa dân tộc. Khái niệm dân tộc thiểu số cũng không có ý nghĩa biểu thị tƣơng quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể đƣợc quan niệm là “đa số” ở quốc gia này, nhƣng đồng thời có thể là “thiểu số” ờ quốc gia khác. Chẳng hạn ngƣời Việt (Kinh) đƣợc coi là dân tộc đa số ở Việt Nam, nhƣng lại đƣợc coi là dân tộc thiểu số ở Trung Quốc (vì chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với các dân tộc của Trung Quốc khoảng 1/55); ngƣợc lại ngƣời Hoa (Hán), đƣợc coi là “dân tộc đa số” ở Trung Quốc, nhƣng lại là dân tộc thiểu số ở Việt Nam (ngƣời Hoa chiếm tỉ lệ 1/46 dân tộc thiểu số của Việt Nam).
Rõ ràng, quan niệm về dân tộc thiểu số và “dân tộc đa số” cũng nhƣ nội hàm của chúng hiện nay còn có những vấn đề chƣa thống nhất 10 Luan van và nó cũng đƣợc vận dụng xem xét rất linh hoạt trong từng điều kiện cụ thể, tuỳ theo quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia dân tộc. Bảo tồn và phát triển Từ trƣớc đến nay, khi nói đến văn hoá các dân tộc thiểu số, ngƣời ta thƣờng dùng khái niệm “bảo tồn và phát triển”. Khái niệm này bao gồm hai nội dung cụ thể là “bảo tồn” và “phát triển”. Nhƣng nội hàm chi tiết của mỗi một nội dung đó nhƣ thế nào thì ngƣời ta ít khi giải thích.
Trong đề tài này, tác giả tạm giới hạn nó ở những khía cạnh sau đây. Trƣớc hết, công việc bảo tồn là làm thế nào để lƣu giữ đƣợc vốn văn hoá đã có.