Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình" do sinh viên Phạm Thị Duyên thực hiện năm 2022 thuộc chuyên ngành Quản lý văn hóa, Khoa Quản lý xã hội, Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Kim Chi.
Lý do chọn đề tài xuất phát từ vị trí đặc thù của di tích Chùa Keo – một công trình kiến trúc nghệ thuật cổ gần 400 năm tuổi bằng gỗ lim, được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012 và có lễ hội được ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2017. Theo số liệu thống kê của Cục Di sản văn hóa được tác giả trích dẫn, Việt Nam có hơn 41.000 di tích, thắng cảnh; trong đó vùng đồng bằng sông Hồng tập trung mật độ cao nhất cả nước (chiếm 56% số di tích quốc gia và 46% tổng số di tích). Tỉnh Thái Bình sở hữu mật độ di sản dày đặc, nhưng công tác quản lý bảo tồn tại các di tích lớn như Chùa Keo đang đứng trước nhiều xung đột thực tiễn. Những năm trước đây, di tích từng ghi nhận tình trạng người dân địa phương lấn chiếm khuôn viên, việc quản lý kinh doanh dịch vụ mùa lễ hội lộn xộn, hiện tượng trục lợi từ du khách và nguy cơ xuống cấp vật liệu kiến trúc cổ qua thời gian cùng thiên tai, chiến tranh. Bên cạnh đó, bối cảnh đại dịch Covid-19 tác động nặng nề lên ngành du lịch đòi hỏi phải nhìn nhận lại việc quy hoạch, khai thác giá trị di tích bền vững.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Nghiên cứu, tìm hiểu di tích Chùa Keo – Thái Bình nhằm khái quát hệ giá trị lịch sử, nghệ thuật, văn hóa, kiến trúc; phân tích thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích, tạo tiền đề cho công tác khai thác kinh tế và du lịch lâu dài.
- Xác lập cơ sở khoa học cho việc đề xuất các định hướng và biện pháp khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên nhằm phát triển có hiệu quả hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo.
Nhiệm vụ nghiên cứu được phân định thành ba nội dung:
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích cổ, rà soát cơ sở pháp lý và chủ trương của Đảng, Nhà nước.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động quản lý, trùng tu tôn tạo, tổ chức lễ hội và phát huy giá trị tại di tích Chùa Keo – Thái Bình.
- Đánh giá những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý di tích và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn, phát huy giá trị di tích Chùa Keo trong giai đoạn mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Chùa Keo – Thái Bình.
- Phạm vi không gian: Khuôn viên di tích Chùa Keo và vùng phụ cận thuộc địa phận thôn Hành Dũng Nghĩa, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát, thu thập và xử lý các số liệu quản lý, hoạt động bảo tồn từ năm 2019 trở về trước.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào thực trạng cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, hoạt động bảo quản, tu bổ, tôn tạo hạ tầng, quy trình tổ chức lễ hội và các giải pháp gắn bảo tồn với du lịch địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành Quản lý văn hóa và Luật Di sản văn hóa:
- Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa: Tiếp cận theo quy định tại Luật Di sản văn hóa (2001), khẳng định di tích là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
- Khái niệm bảo tồn di tích: Được xác định là các hành động nhằm bảo vệ, giữ gìn, lưu giữ sự tồn tại của di tích theo dạng thức nguyên gốc vốn có, không làm mai một hay biến dạng giá trị vật thể và phi vật thể.
- Khái niệm phát huy giá trị di tích: Tác giả dẫn chiếu quan niệm phát huy là "làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm", biến các giá trị di sản thành nguồn lực nội sinh đóng góp vào đời sống vật chất, tinh thần và phát triển kinh tế - xã hội bền vững; đồng thời liên hệ lý thuyết kinh tế cổ điển của Adam Smith và David Ricardo về giá trị trao đổi hình thành từ hao phí lao động.
Về căn cứ pháp lý và chủ trương, tác giả viện dẫn hệ thống văn bản đồng bộ:
- Văn bản của Đảng: Nghị quyết số 03/NQ-TW ngày 16/7/1998 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.
- Văn bản của Nhà nước: Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN ngày 04/04/1984 về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh (đặc biệt là Điều 12, 14, 15 phân định ba khu vực bảo vệ di tích, Điều 18 về thẩm quyền phê duyệt tu bổ); Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH2001; Thông tư số 09/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 quy định về hồ sơ khoa học xếp hạng di tích; Quyết định số 1587/QĐ-TTg ngày 13/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt nhiệm vụ Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt Chùa Keo; Quyết định số 2319/QĐ-UBND ngày 11/6/2019 và Chỉ thị số 12/CT-UBND ngày 27/6/2019 của UBND tỉnh Thái Bình về phân cấp quản lý di tích.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai phối hợp:
- Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát hiện trạng kiến trúc 17 công trình, không gian cảnh quan và hoạt động đón khách tại di tích Chùa Keo.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Phân tích các nguồn sử liệu thành văn (văn bia, địa bạ, tác phẩm Thánh tổ thực lục diễn ca), hồ sơ quy hoạch, báo cáo kiểm kê di tích của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình, các nghiên cứu quốc tế về bảo tồn kiến trúc (Jukka Jokilehto, Aylin Orbasli, John H. Stubbs, Jigna Desai).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiếp xúc, phỏng vấn trực tiếp nhân dân sinh sống lâu năm quanh khu vực di tích và các cán bộ phụ trách.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Tổng hợp ý kiến đánh giá từ các nhà quản lý văn hóa và cán bộ chuyên môn về bảo tồn di tích.
Nguồn dữ liệu của đề tài gồm số liệu kiểm kê di tích của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình giai đoạn 1962–2020, thông tin hành chính - tài chính do Ban quản lý di tích Chùa Keo cung cấp và hệ thống văn bản pháp quy từ cấp trung ương đến địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo Thái Bình
Chương này tập trung làm rõ khung lý thuyết, lịch sử hình thành vùng đất Thái Bình, lịch sử khởi dựng và giá trị kiến trúc nghệ thuật của Chùa Keo. Tác giả lược thuật quá trình phân định địa giới hành chính của tỉnh Thái Bình từ thời Bắc thuộc (thuộc hương Đa Cương, quận Giao Chỉ) qua các thời kỳ Hậu Lê, nhà Nguyễn, mốc thành lập tỉnh ngày 21/3/1890 của Toàn quyền Đông Dương cho đến khi thành lập huyện Vũ Thư ngày 17/6/1969 theo Quyết định số 93/CP (diện tích 195,2 km² gồm 29 xã, 1 thị trấn).
Về lịch sử Chùa Keo, tư liệu văn bia chỉ rõ tiền thân là chùa Nghiêm Quang do Thiền sư Dương Không Lộ xây dựng năm 1061 tại ấp Giao Thủy (Nam Định). Sau trận lũ sông Hồng cuốn trôi làng năm 1611, dân cư chuyển cư sang tả ngạn sông Hồng lập làng Dũng Nhuệ (Thái Bình) và vận động xây dựng chùa Keo Thượng từ năm 1630 đến 1632 dưới sự hỗ trợ của bà Lại Thị Ngọc Lễ và Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ, do Cường Dũng hầu Nguyễn Văn Trụ vẽ kiểu. Chùa từng trải qua các đợt trùng tu lớn vào năm 1689, 1707 và năm 1941 (có sự hỗ trợ của Viện Viễn Đông Bác Cổ).
Chương 1 thống kê chi tiết quy mô và các thành tố cấu trúc kiến trúc gỗ Chùa Keo:
- Tổng diện tích khu kiến trúc cổ: Khoảng 58.000 m², gồm 17 công trình với 128 gian theo kiểu kết cấu "Nội công ngoại quốc", toàn bộ bằng gỗ lim liên kết mộng giằng.
- Trục kiến trúc chính: Cột cờ gỗ chò cao 25 m ngoài cùng, sân lát đá, Tam quan ngoại, hồ sen, Tam quan nội sở hữu bộ cánh cửa gỗ chạm khắc rồng mẹ rồng con chầu mặt nguyệt thời Lê (kích thước cao 2 m, rộng 2,6 m).
- Khu thờ Phật: Gồm Chùa Hộ, ống Muống và Phật điện với gần 100 pho tượng, bao gồm tượng Thích Ca nhập Niết bàn, Quan Âm Chuẩn Đề, Văn Thù và Phổ Hiền Bồ Tát.
- Khu thờ Thánh (Đền Thánh thờ Quốc sư Không Lộ): Lớn hơn khu thờ Phật 7 gian, gồm 4 tòa liên hoàn: Giá Roi (kết cấu mái hồi diêm), Thiêu Hương, Thượng Điện (kết cấu chéo đao tẩu góc) và Phục Quốc (kết cấu mái vẩy). Thượng điện lưu giữ tượng Thiền sư Không Lộ bằng gỗ trầm hương ngót nghìn năm tuổi. Khu vực này còn có giếng nước xếp thành bằng cối đá thủng.
- Tòa Gác chuông: Cao 11,04 m, 3 tầng mái liên kết bằng hệ thống con sơn gần 100 đàn đầu voi nâng 12 mái ngói đao loan uốn cong. Tầng một đặt khánh đá cao 1,20 m; tầng hai treo chuông đồng đúc năm 1686 (cao 1,30 m, đường kính 1 m); tầng ba và tầng thượng treo hai quả chuông nhỏ đúc năm 1796 (cao 0,62 m, đường kính 0,69 m). Chùa còn lưu giữ các cổ vật truyền thống: bộ tràng hạt bằng ngà, một bình vôi lớn và ba vỏ ốc dát vàng.
- Lễ hội Chùa Keo: Tổ chức hai kỳ mỗi năm. Hội xuân diễn ra ngày mùng 4 tháng Giêng Âm lịch. Hội thu (chính hội) diễn ra vào các ngày 13, 14, 15 tháng 9 Âm lịch, kỷ niệm ngày sinh Thiền sư Không Lộ (sinh năm 1016, mất 1094), với các nghi thức rước kiệu, long đình, thuyền rồng và thi diễn xướng lục cúng.
| Hạng mục kiến trúc / Hiện vật |
Đặc điểm kỹ thuật / Quy mô |
Niên đại / Ghi chú |
| Toàn bộ quần thể kiến trúc |
17 công trình, 128 gian, kiểu "Nội công ngoại quốc" |
Khởi dựng 1630–1632, gỗ lim |
| Gác chuông |
Cao 11,04 m, 3 tầng mái, kết cấu con sơn gần 100 đàn đầu voi |
12 mái đao ngói cong |
| Cánh cửa Tam quan nội |
Cao 2,0 m; rộng 2,6 m |
Chạm ổ rồng thời Hậu Lê |
| Khánh đá (Gác chuông tầng 1) |
Cao 1,20 m |
Khắc hoa văn cổ |
| Chuông đồng đại (Gác chuông tầng 2) |
Cao 1,30 m; đường kính 1,0 m |
Đúc năm Bính Dần (1686) |
| Hai chuông đồng nhỏ (Tầng 3 và thượng) |
Cao 0,62 m; đường kính 0,69 m |
Đúc năm Bính Thìn (1796) |
| Cột cờ ngoài cùng |
Gỗ chò thẳng tắp, chiều cao 25 m |
Không gian tiền bái |
| Tượng Quốc sư Không Lộ |
Điêu khắc gỗ trầm hương đặt trong cung cấm |
Niên đại cổ truyền |
Chương 2: Thực trạng hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di tích và công tác bảo tồn Chùa Keo – Thái Bình
Chương 2 đi sâu vào thực trạng mạng lưới di tích tỉnh Thái Bình và cơ chế vận hành bộ máy quản lý tại Chùa Keo. Dữ liệu quản lý ngành văn hóa cho thấy qua 4 đợt tổng kiểm kê (1962, 1977, 2007, 2014), tính đến hết năm 2020 tỉnh Thái Bình có 2.969 di tích. Cơ cấu di tích được tổng hợp như sau:
| Phân loại theo xếp hạng |
Số lượng |
Phân loại theo thiết chế tín ngưỡng |
Số lượng |
| Di tích quốc gia đặc biệt |
02 |
Chùa |
869 |
| Di tích quốc gia |
114 |
Đình |
731 |
| Di tích cấp tỉnh |
550 |
Đền |
425 |
| Di tích trong danh mục kiểm kê |
2.138 |
Miếu |
425 |
| - |
- |
Từ đường |
401 |
| - |
- |
Địa điểm lịch sử |
21 |
| - |
- |
Các loại hình khác |
97 |
| Tổng cộng |
2.969 |
Tổng cộng |
2.969 |
Về tổ chức bộ máy, Ban Quản lý di tích Chùa Keo có trụ sở tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, mã số thuế 1000766533, do ông Bùi Văn Thương làm người đại diện pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu riêng và tài khoản kho bạc. Cơ quan này chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Bình và UBND huyện Vũ Thư theo Quyết định số 2319/QĐ-UBND và Chỉ thị số 12/CT-UBND.
Về công tác quy hoạch, Quyết định số 1587/QĐ-TTg ngày 13/10/2017 của Thủ tướng Chính phủ xác lập phạm vi nghiên cứu quy hoạch bảo tồn Chùa Keo có diện tích 13,5 ha, bao gồm:
- Khu vực bảo vệ I và II: 4,18 ha (Khu vực bảo vệ I là 2,7 ha; Khu vực bảo vệ II là 1,48 ha).
- Khu vực mở rộng về phía Đông và Đông Bắc thuộc xã Duy Nhất và xã Vũ Tiến: 9,32 ha.
- Ranh giới: Phía Bắc giáp ruộng lúa xã Vũ Tiến; phía Nam giáp đê Tả Hồng (tỉnh lộ 463) và dân cư làng Keo; phía Đông giáp khu thương mại - dịch vụ và tái định cư; phía Tây giáp dân cư làng Keo và đất lúa xã Vũ Tiến.
Về kinh phí và hoạt động tu bổ, văn bản nêu rõ Chùa Keo chỉ trải qua hai đợt trùng tu lớn: đợt năm 1941 và đợt kéo dài 5 năm do Nhà nước cấp vốn (1999–2004) với ngân sách 19 tỉ đồng. Nguồn vốn này kết hợp tiền công đức chỉ đủ xử lý nội thất và các hạng mục chính, chưa thể xây dựng đồng bộ các công trình phụ trợ. Hiện tại, nguồn thu công đức thập phương đạt trên 2 tỉ đồng/năm được công khai, dùng để hoàn thiện dần các hạng mục dịch vụ như khu bán hàng lưu niệm, bãi đỗ xe và khu vệ sinh bằng nguồn vốn xã hội hóa. Tác giả cũng chỉ ra hạn chế: năm 2009 từng xảy ra sai phạm do tu bổ thiếu đồng thuận giữa các bên; biên chế bộ máy quản lý còn mỏng, khâu kiểm tra xử lý vi phạm trong mùa cao điểm du lịch có lúc chưa triệt để.
Chương 3: Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị di tích Chùa Keo Thái Bình
Dựa trên các tồn tại thực tế, chương 3 đề xuất hệ thống nhóm giải pháp chuyên ngành nhằm duy trì tính nguyên gốc và gia tăng giá trị kinh tế - xã hội của di tích:
- Giải pháp về quản lý và đào tạo nhân sự: Kiện toàn tổ chức Ban Quản lý di tích Chùa Keo theo hướng chuyên nghiệp hóa, nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ về quản lý di sản, ngoại ngữ và kỹ năng hướng dẫn viên du lịch; phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư và ngành văn hóa tỉnh.
- Giải pháp về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích: Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc bảo tồn yếu tố gốc của kiến trúc gỗ lim, kỹ thuật mộng truyền thống; xử lý định kỳ phòng chống mối mọt và nguy cơ cháy nổ; bảo quản khoa học hệ thống cổ vật như khánh đá, chuông đồng, cửa chạm rồng và tượng trầm hương; lập hồ sơ chi tiết đối với từng cấu kiện hư hại trước khi can thiệp.
- Khôi phục một số nghi thức lễ hội truyền thống: Duy trì và chuẩn hóa các hoạt động tế lễ, rước kiệu, hội thi diễn xướng lục cúng dân gian; loại bỏ các biểu hiện mê tín dị đoan, quản lý chặt chẽ hoạt động dịch vụ xung quanh lễ hội nhằm bảo tồn nét đẹp văn hóa tâm linh.
- Công tác quy hoạch giữa bảo tồn và phát triển du lịch: Đẩy mạnh thực hiện các phân kỳ đầu tư theo Quyết định số 1587/QĐ-TTg trên diện tích 13,5 ha; hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật (bãi đỗ xe, phân khu dịch vụ tách biệt khỏi vùng lõi bảo vệ I), hình thành các tuyến du lịch kết nối Chùa Keo với các di tích lớn trong vùng đồng bằng sông Hồng như Quần thể Đền Trần Thái Bình.
- Giải pháp thu hút cộng đồng địa phương: Tạo cơ chế sinh kế bền vững để người dân bản địa tham gia cung cấp dịch vụ du lịch, bảo vệ cảnh quan môi trường; phát huy vai trò giám sát cộng đồng trong việc phát hiện các hành vi xâm phạm đất đai và cấu kiện di tích.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và trích xuất hệ thống số liệu cụ thể về di tích Chùa Keo và công tác quản lý di sản tại địa phương:
- Số liệu kiến trúc - hiện vật: Làm rõ quy mô 17 công trình với 128 gian bằng gỗ lim trên diện tích cổ 58.000 m²; đo đạc chiều cao Gác chuông đạt 11,04 m; kích thước cánh cửa chạm rồng Tam quan nội (2 m x 2,6 m); niên đại và kích thước chuông đồng đúc năm 1686 (cao 1,3 m, đường kính 1 m) và hai chuông năm 1796 (cao 0,62 m, đường kính 0,69 m).
- Số liệu quản lý ngành: Thống kê chính xác toàn tỉnh Thái Bình có 2.969 di tích tính đến hết năm 2020, bao gồm 2 di tích quốc gia đặc biệt (Chùa Keo và Đền Trần), 114 di tích quốc gia, 550 di tích cấp tỉnh và 2.138 di tích kiểm kê.
- Dữ liệu quy hoạch và kinh phí: Khai thác chi tiết các thông số trong Quyết định số 1587/QĐ-TTg với quy mô quy hoạch 13,5 ha (Khu vực I: 2,7 ha; Khu vực II: 1,48 ha; đất mở rộng: 9,32 ha); phản ánh mức đầu tư công đợt trùng tu 1999–2004 đạt 19 tỉ đồng và nguồn thu công đức duy trì trên 2 tỉ đồng/năm.
Đóng góp tự nêu của tác giả:
- Công trình đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý quản lý di tích áp dụng trực tiếp vào một trường hợp nghiên cứu cụ thể là di tích quốc gia đặc biệt tại địa phương.
- Đánh giá khách quan thực trạng bảo tồn, nhận diện những xung đột lịch sử (xâm lấn đất đai, sai phạm tu bổ năm 2009, kinh doanh lộn xộn mùa hội) và đưa ra các nhóm giải pháp có tính ứng dụng, đóng góp ý kiến chuyên môn ngành Quản lý văn hóa cho cơ quan quản lý di tích tỉnh Thái Bình và huyện Vũ Thư trong việc thực hiện quy hoạch tổng thể.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận:
- Phạm vi dữ liệu khảo sát và số liệu thống kê chỉ dừng lại ở các mốc từ năm 2019 trở về trước (số liệu di tích toàn tỉnh chốt đến hết năm 2020), chưa cập nhật được đầy đủ diễn biến quản lý di tích và biến động kinh tế du lịch sau giai đoạn cao điểm dịch Covid-19 (2021–2022).
- Khóa luận mới tiếp cận đánh giá công tác quy hoạch ở mức độ nghiên cứu nhiệm vụ phê duyệt theo Quyết định 1587/QĐ-TTg, chưa có điều kiện khảo sát thực tế toàn bộ tiến độ triển khai xây dựng hạ tầng 9,32 ha mở rộng trên thực địa.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng đánh giá tác động kinh tế du lịch và sự tham gia của chuỗi cung ứng dịch vụ địa phương sau khi đồ án quy hoạch tổng thể 13,5 ha được thi công hoàn tất.
- Khảo sát sâu hơn về ứng dụng chuyển đổi số trong công tác thuyết minh, số hóa hiện vật 3D và quản lý nguồn thu công đức tại Chùa Keo.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên các chuyên ngành Quản lý văn hóa, Quản lý di sản, Văn hóa học, Du lịch và Kiến trúc cổ tham khảo về phương pháp xây dựng khung lý thuyết bảo tồn gắn với văn bản quy phạm pháp luật và phân tích một hồ sơ di tích kiến trúc gỗ cụ thể.
- Cán bộ quản lý văn hóa cơ sở, Ban Quản lý di tích Chùa Keo và Phòng Văn hóa - Thông tin huyện Vũ Thư tham khảo trong việc xây dựng quy chế quản lý lễ hội, bảo vệ ranh giới di tích và hoàn thiện thủ tục xã hội hóa nguồn vốn tu bổ.
- Các nội dung đặc biệt đáng tham khảo gồm: bảng thống kê phân loại 2.969 di tích tỉnh Thái Bình, các thông số kỹ thuật kiến trúc gỗ của Gác chuông Chùa Keo và các cứ liệu phân định ranh giới bảo vệ theo Quyết định 1587/QĐ-TTg.
Câu hỏi thường gặp
1. Chùa Keo Thái Bình được khởi công xây dựng lại vào thời gian nào và do những ai khởi xướng?
Chùa Keo Thái Bình (Keo Trên) được bắt đầu khởi công xây dựng lại vào năm 1630 và hoàn thành vào năm 1632 dưới thời Hậu Lê. Công trình được xây dựng nhờ sự vận động của bà Lại Thị Ngọc Lễ (vợ Tuần Thọ hầu Hoàng Nhân Dũng) cùng Đông Cung Vương phi Trịnh Thị Ngọc Thọ, do Cường Dũng hầu Nguyễn Văn Trụ vẽ kiểu phỏng theo kiến trúc của chùa Keo Hành Thiện.
2. Quần thể Chùa Keo có quy mô kiến trúc hiện tại gồm bao nhiêu công trình, làm bằng vật liệu gì?
Toàn bộ quần thể kiến trúc Chùa Keo còn tồn tại 17 công trình với 128 gian theo kiểu kết cấu "Nội công ngoại quốc". Tất cả các hạng mục chịu lực chính đều được làm hoàn toàn bằng gỗ lim, liên kết bằng hệ thống mộng giằng tinh xảo không dùng đinh kim loại.
3. Tòa Gác chuông Chùa Keo có thông số kỹ thuật và hệ thống chuông khánh như thế nào?
Gác chuông cao 11,04 m, kết cấu 3 tầng 12 mái ngói đao cong bằng hệ thống con sơn gần 100 đàn đầu voi chồng lên nhau. Tầng một đặt khánh đá cao 1,20 m; tầng hai treo quả chuông đồng lớn đúc năm 1686 cao 1,30 m, đường kính 1 m; tầng ba và tầng thượng treo hai quả chuông nhỏ đúc năm 1796 cao 0,62 m, đường kính 0,69 m.
4. Quy hoạch tổng thể di tích Chùa Keo theo Quyết định 1587/QĐ-TTg năm 2017 có diện tích bao nhiêu?
Theo Quyết định số 1587/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, phạm vi lập quy hoạch có quy mô 13,5 ha. Diện tích này gồm 4,18 ha thuộc khu vực bảo vệ I (2,7 ha) và khu vực bảo vệ II (1,48 ha), cùng 9,32 ha đất mở rộng về phía Đông và Đông Bắc thuộc địa phận xã Duy Nhất và xã Vũ Tiến, huyện Vũ Thư.
5. Nguồn kinh phí đầu tư tu bổ Chùa Keo qua các thời kỳ gồm những nguồn nào?
Chùa từng trải qua đợt trùng tu lớn giai đoạn 1999–2004 bằng nguồn vốn hỗ trợ của Nhà nước là 19 tỉ đồng để tu sửa khu vực nội thất và chùa chính. Hiện nay, di tích duy trì nguồn kinh phí thu từ công đức thập phương trên 2 tỉ đồng mỗi năm, được công khai để đầu tư dần các công trình phụ trợ (bãi đỗ xe, quầy lưu niệm, nhà vệ sinh) theo hình thức xã hội hóa.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Phạm Thị Duyên đã phản ánh toàn diện hệ thống lý luận và thực trạng quản lý, bảo tồn di tích quốc gia đặc biệt Chùa Keo – Thái Bình dựa trên hệ thống tư liệu lịch sử và số liệu hành chính xác thực. Tác giả đã làm rõ cấu trúc kiến trúc gỗ đặc sắc, giá trị văn hóa của lễ hội truyền thống, cũng như chỉ ra những bất cập trong quản lý cảnh quan, nhân lực và nguồn lực đầu tư phụ trợ. Các đề xuất trong công trình bám sát đồ án quy hoạch tổng thể 13,5 ha theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho công tác quản lý di sản văn hóa tại địa phương.