ĐẶT VẤN ĐỀ Cây xanh có một vai trò quan trọng trong đời sống của con ngƣời trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Hệ thống cây xanh từ lâu đã đƣợc con ngƣời coi nhƣ lá phổi của trái đất có tác dụng bảo vệ môi trƣờng và cải thiện môi sinh. Cây xanh không những làm đẹp cho thành phố và làm phong phú cuộc sống dân cƣ đô thị mà còn có ý nghĩa kinh tế và tác dụng phòng hộ. Ngoài tác dụng tạo cảnh quan và bóng mát, hệ thống cây xanh đƣờng phố còn có nhiều tác dụng đối với môi trƣờng nhƣ: giảm nhiệt độ không khí, tăng độ ẩm, cung cấp khí ô xi và giảm tích lũy khí các bon, hạn chế tiếng ồn, hấp thu các chất có tính phóng xạ, giảm nồng độ bụi.Trên phƣơng diện kiến trúc, cây xanh đô thị là một bộ phận tổ thành cấu trúc đô thị.
Mỗi loài cây đều có hình dáng, màu sắc, kích thƣớc, cấu trúc, mức độ sinh trƣởng khác nhau, phối hợp với các thành phần kiến trúc khác nhau, tạo cho đô thị thành một quần thể thống nhất có giá trị thẩm mỹ cao. Trong hệ thống cây xanh đô thị thì cây xanh đƣờng phố có vị trí quan trọng trong việc liên kết các mảng xanh tạo môi trƣờng thẩm mỹ đƣờng phố, tạo cảnh quan cho bộ mặt của đô thị. Hà Nội là thủ đô đất nƣớc Việt Nam và đã có lịch sử phát triển trên 1000 năm. Mặc dù thành phố Hà Nội đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, nhiều lần điều chỉnh quy hoạch nhƣng quận Hoàn Kiếm luôn là khu vực trung tâm của Thành phố.
So với các quận còn lại, quận Hoàn Kiếm là nơi bảo tồn nhiều công trình kiến trúc cảnh quan có giá trị về lịch sử và nghệ thuật, đặc biệt là khu vực phố cổ. Về tổng thể, địa bàn quận Hoàn Kiếm đƣợc chia thành 3 phân khu chính gồm khu phố cổ, khu phố cũ và khu vực phố mới nằm ngoài đê Sông Hồng. Bên cạnh các yếu tố về kiến trúc công trình, quận Hoàn Kiếm còn có hệ thống cây xanh bóng mát đƣờng phố đẹp, chủng loại đa dạng với nhiều cây cổ thụ lâu đời gắn liền với lịch sử phát triển của quận. Tuy nhiên, chất lƣợng hệ thống cây xanh đƣờng phố này cũng đang chịu tác động bởi quá trình đô thị hóa và sinh hoạt của ngƣời dân.
Nhiều cây bóng mát có tuổi đời, đƣờng kính lớn bị bịt gốc, cành tán vƣớng mái nhà hoặc đƣờng dây điện, thân bị đóng đinh treo biển quảng cáo, không gian sống bị thu hẹp 2 làm tán cây mất cân đối, hệ rễ không phát triển…Hơn nữa, cây xanh tại khu vực phố cổ, phố cũ đƣợc quy hoạch và trồng khá lâu, công tác chăm sóc, duy trì chƣa đƣợc sự quan tâm đúng mức nên đến nay một bộ phận cây không đáp ứng đƣợc yêu cầu về cảnh quan và an toàn. Để góp phần cung cấp những cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đƣờng phố hiện có trên địa bàn quận Hoàn Kiếm, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng, đề xuất biện pháp bảo tồn và phát triển cây xanh đường phố quận Hoàn Kiếm – Thành phố Hà Nội”. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới Qua các thời kỳ phát triển của xã hội loài ngƣời ,quá trình đô thị hóa ở các nƣớc ngày càng tăng, số liệu tổng hợp của Liên Hiệp Quốc (1991) chỉ ra rằng vào giữa năm 1990, khoảng 45% dân số thế giới sống ở các thị trấn và thành phố, con số này sẽ tăng lên 51% trong năm 2000 và 65% trong năm 2025.
Quá trình phát triển đô thị quá nhanh sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái và tác động tiêu cực tới sự phát triển bền vững của đô thị. Trên thế giới đã đƣa ra nhiều quan niệm khác nhau về tạo lập môi trƣờng sinh thái, tuy nhiên ở bất cứ quan điểm nào thì cây xanh đô thị cũng là một thành phần rất quan trọng để tạo nên một môi trƣờng sống tốt và sự tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt, là phƣơng thức hiệu quả để quản lý và phát triển cây xanh đô thị. Qua đó các nghiên cứu về bảo tồn và phát triển hệ thống cây xanh đô thị trên thế giới đã trải qua nhiều thời kỳ. Thời kỳ trung đại Các công trình kiến trúc, công trình tôn giáo trong xã hội phong kiến đã đƣợc kết hợp trồng cây xanh.
Đến thế kỷ IX, hệ thống đô thị với 3 loại hình: đô thị tôn giáo, đô thị quân sự và đô thị thƣơng mại. Trong đó, không gian xanh đa dạng hơn, nổi bật là xuất hiện không gian xanh công cộng, quảng trƣờng, cung điện [21]. Công tác trồng cây xanh dọc theo các tuyến đƣờng bắt đầu có từ khoảng thế kỉ X trƣớc Công nguyên. Với mục đích vì quân sự, ngƣời ta đã cho trồng cây trên tuyến đƣờng nối từ Kolkata của Ấn độ đến Afghanistan nằm ở chân dãy Himalaya.
Cây trên đƣờng đƣợc trồng thành 3 hàng, một hàng chính giữa trung tâm đƣờng và hai hàng cây hai bên đƣờng. Vào thời kỳ đó đƣờng còn có một tên gọi khác là “Grand trunk road” - Đƣờng cây lớn [27]. Sau đó đến khoảng giữa thế kỉ VIII trƣớc Công nguyên vùng Lƣỡng hà (Mesopotania), khi xây dựng cung điện ngƣời ta đã trồng các hàng cây Tùng, Cây Bách Italia (Italian crypress) thành hàng đối xứng dọc theo các tuyến đƣờng trong 4 khu vực cung điện. Đây cũng đƣợc xem là mốc lịch sử trồng cây xanh đƣờng phố của các quốc gia vùng châu Âu [27].
Từ thế kỉ VII trƣớc Công nguyên đến thế kỉ IV Công nguyên (thời kỳ Hi Lạp cổ đại), ngƣời ta thấy hai bên các đƣờng dạo phía trƣớc các sân vận động (Stadium) và quảng trƣờng (Forum) trƣớc các đền thờ đều có trồng cây Ngô đồng Pháp. Còn ở những tuyến đƣờng chính trong các khu thành cổ La mã thì lại chủ yếu trồng Bách Italia. Tiếp đến thời kỳ từ thế kỉ V cho đến thế kỉ XIV, nhiều quốc gia châu Âu cũng đã trồng Bách Italia trên các tuyến đƣờng hành lễ [27]. Thời kỳ cận đại Sau thời kỳ văn hóa phục hƣng tại một số quốc gia vùng châu Âu, công tác trồng cây đƣờng phố phát triển khá nhanh.
Năm 1552, ở nƣớc Pháp, Henri 2 đã từng công bố pháp lệnh trồng cây, phát động nhân dân trong cả nƣớc trồng cây trên các tuyến đƣờng chính trong các khu ở và trồng cây trên các tuyến đƣờng quốc lộ. Cũng trong thời kỳ này, Đế chế Áo – Hung (Austro-Hungarian empire) cũng đƣa ra kế hoạch trồng cây Ngô đồng Pháp dọc theo các tuyến đƣờng chính trong cả nƣớc với mục đích là bổ sung nguồn gỗ cung cấp cho các hoạt động quân sự [27]. Chủ nghĩa tƣ bản xuất hiện vào thế kỷ 17 đã tạo điều kiện để đô thị phát triển với qui mô lớn. Các nghiên cứu về đô thị học ra đời làm lý luận về cây xanh đô thị càng đƣợc chú trọng hơn.
Năm 1647, ở Đức sau khi xây dựng tuyến đại lộ tại thành phố Beclin, ngƣời ta đã trồng 4-6 hàng cây bóng mát lớn hai bên đƣờng. Tuyến đƣờng này sau đã đƣợc các nhà quy hoạch đô thị Pháp nghiên cứu và áp dụng trong việc xây dựng loại hình đƣờng Boulvars tại thành phố Pari sau này [22]. Ở Anh vào năm 1652, công viên St.Jame‟s Park tại vùng Moore Phils, thủ đô Luân Đôn đã đƣợc thiết kế các đƣờng dạo bóng mát công cộng có độ dài khoảng 1 km, hai bên đƣờng trồng 4-6 hàng cây Ngô đồng Pháp tạo bóng mát với mục đích phục vụ Nữ Hoàng đi dạo trên xe ngựa. Sau đó mô hình dạng đƣờng bóng mát này đƣợc sử dụng rộng rãi để tạo nên các đƣờng cây bóng mát trong các đô thị ở nƣớc Anh [22].
5 Nƣớc Anh cũng là một trong những quốc gia có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu về cây xanh đô thị. Năm 1618, William Lawson đã viết khá chi tiết về việc chăm sóc cây trồng đô thị trong cuốn “Vƣờn và vƣờn giống mới”. John Evelyn, năm 1662 đã đề cập đến tất cả các lĩnh vực cây trồng (CAT, cây lâm nghiệp) trong một cuốn sách có tên Sylva (Eve, 1970). Trong cuốn sách này ông chú trọng đến việc nghiên cứu cây trồng đƣờng phố, cây cảnh.
Năm 1825, ở Pháp Chính phủ đã công bố pháp lệnh về việc bắt buộc phải trồng cây xanh bóng mát trên các tuyến đƣờng phố. Pháp lệnh này chính là cơ sở để xây dựng những quy phạm kỹ thuật về tuyển chọn cây trồng, kiểm nghiệm chất lƣợng cây giống đƣa trồng, cắt tỉa và duy trì cây xanh trên các tuyến đƣờng đô thị [23]. Năm 1858, kiến trúc sƣ Georges E. Smann chủ trì thiết kế xây dựng tuyến đƣờng bóng mát Champs Elysees ở thành phố Senna.
Tuyến đƣờng này đã trở thành mẫu đƣờng bóng mát điển hình thời kỳ cận đại và có ảnh hƣởng rất lớn đến phát triển mô hình đƣờng bóng mát ở các thành phố của Mỹ và các quốc gia khu vực châu Âu. Năm 1872, kiến trúc sƣ ngƣời Pháp Pierre Charles L.Enfant thiết kế các tuyến đƣờng bóng mát tại thành phố Washington cũng đa số là áp dụng các mô hình đƣờng bóng mát của Pháp. Đặc biệt để chọn loài cây trồng cho các tuyến đƣờng thiết kế ở Mỹ, nhà thiết kế đã tiến hành thử nghiệm 30 loài cây và chọn ra đƣợc 12 loài cây thích hợp nhất dùng cho trồng đƣờng phố [23]. Thời kỳ hiện đại Cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật ra đời và phát triển mạnh mẽ vào cuối thế kỷ 19 đã thúc đẩy sản xuất phát triển, dân cƣ đô thị ngày càng đông đúc hơn.
Các nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí cho dân cƣ đô thị do cuộc sống Công nghiệp hóa ngày càng cao đặt cho các nhà quản lý đô thị phải tính đến việc xây dựng nhiều mảng xanh hơn nữa. Việc thiết kế không chỉ ở nội đô, mà phải mở rộng ra bên ngoài, nơi đất đai còn khá dồi dào. Trong quá trình phát triển, mặc dù châu Âu đã có một lịch sử lâu dài và phong phú của các thiết kế mảng xanh, cách thức quản lý cây xanh [22], nhƣng lâm nghiệp 6 đô thị chính thức đƣợc nghiên cứu nhƣ một lĩnh vực khoa học đầu tiên tại Vƣơng quốc Anh trong thập niên 1980.