ĐẶT VẤN ĐỀ Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên đƣợc thành lập ngày 17/12/1999, sau khi có Quyết định số 3029/1999/QĐ-UB, của Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt dự án xây dựng Khu BTTN Xuân Liên. Ngày 15/6/2000 thực hiện quyết định số 1476/QĐ-UB về việc thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên. Khu bảo tồn đƣợc thành lập với mục tiêu quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng, gắn với việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật quý hiếm, duy trì đa dạng sinh học của các loài trong các sinh cảnh sống, bảo vệ cảnh quan và môi trƣờng; làm cơ sở cho việc đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng rừng đặc dụng; huy động sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, các tổ chức trong và ngoài nƣớc vào hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững. Qua kết quả điều tra cơ bản về hệ thực vật của BQL Khu BTTN Xuân Liên đã xác định đƣợc ở đây có 1142 loài, 620 chi và 180 họ.
Trong đó ngành Mộc lan là đa dạng nhất, chiếm 87,3% tổng số loài của khu vực nghiên cứu, với 35 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng đƣợc ghi trong sách đỏ Việt Nam, chiếm 3,06%. Hệ thực vật Xuân Liên có nhiều loài cây có giá trị và cho nhiều công dụng, cây làm thuốc có số loài cao nhất với 296 loài, cây cho gỗ 210 loài, cây ăn đƣợc 24 loài, cây làm cảnh 41 loài, thấp nhất là cây cho tinh dầu với 14 loài. Tuy nhiên các nghiên cứu chỉ mang tính chất thống kê mà chƣa đi sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố của các loài. Thiên nhiên nơi đây là sự kết hợp tuyệt vời giữa hệ sinh thái núi đá vôi với hệ sinh thái núi đất và hệ sinh thái rừng độc đáo với nhiều loài động, thực vật quý hiếm.
Hiện nay, các loài thực vật rừng quý hiếm nhƣ: Sến mật, Táu mật, Trầm Hƣơng, Chò chỉ, Kim Giao,…trong KBT không còn nhiều, đặc biệt là những loài có giá trị kinh tế cao, đa số các loài đang trong tình trạng khan hiếm. Từ thực tiễn nêu trên em thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn loài Sến mật (Madhuca pasquieri H. Lam) và Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa”. 1 Chƣơng 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Trên thế giới 2. Nghiên cứu về hình thái và phân loại thực vật Những nghiên cứu chung về loài, họ: Sến mật (Madhuca pasquieri H. Lam, 1925), thuộc Họ Hồng xiêm (Sapotaceae) là một họ thực vật hạt kín thuộc về bộ Ericales. Hệ thống Cronquist năm 1981 và hệ thống Dahlgren xếp họ này trong bộ Ebenales.
Họ Sapotaceae chứa các loài cây gỗ và cây bụi có nhựa mủ. Lá đơn thƣờng xanh; mọc so le hay vòng (mọc đối ở Sarcosperma); bóng nhƣ da; có cuống lá; không vỏ bao. Phiến lá nguyên; gân lá lông chim; gân nhỏ vắt chéo. Chủ yếu không lá kèm, hiếm thấy có lá kèm (nhƣ ở Sarcosperma).
Mép phiến lá nguyên. Hoa lƣỡng tính, mọc đơn độc hay thành cụm hoa dạng xim hay chùy hoa. Đơn vị cụm hoa tận cùng dạng xim. Cụm hoa mọc ở nách lá (đôi khi trên các cành già).
Hoa có lá bắc, với kích thƣớc thƣờng nhỏ hay trung bình; cân đối (chủ yếu) hoặc đôi khi hơi không cân đối tới rất không cân đối. Bao hoa với đài hoa và tràng hoa riêng biệt; 6–16; 2 vòng hoặc 3 vòng; đẳng số. Đài hoa 4 hay 5-6 hoặc 8; 1 vòng (khi đó là 5), hoặc 2 vòng (khi đó 2+2, 3+3 hay 4+4); nhiều lá đài; khi một vòng thì xếp lợp. Tràng hoa 3–6, hoặc 8-10; 1 vòng hoặc 2 vòng (và đôi khi có vẻ là 2 vòng, mặc dù các thùy của vòng duy nhất mang các phần phụ ở lƣng giống nhƣ chính chúng); có phần phụ (với các phần phụ ở lƣng trên các thùy) hoặc không phần phụ; cánh hoa hợp; xếp lợp.
Các phần của bộ nhị hợp sinh (với ống tràng); rời nhau; 1–3 vòng. Bộ nhị có thể chỉ bao gồm các nhị sinh sản tới bao gồm cả các nhị lép (vòng ngoài, vòng đối lá đài khi có mặt thƣờng chỉ gồm nhị lép). Nhị lép 2 hoặc 3-4-5; khi có mặt thì nằm bên ngoài các nhị sinh sản; dạng cánh hoa hoặc không. Nhị 4–15; đẳng số với bao hoa, hoặc gấp đôi hay gấp ba; mọc so le hay đối với lá đài; đối diện với các phần của tràng hoa hoặc cả so le 2 lẫn đối diện với các phần của tràng hoa.
Các bao phấn nứt theo khe nứt dọc; nói chung hƣớng ngoài; dạng 4 túi bào tử. Các hạt phấn hoa có 3–4(–6) khe hở dọc; 2-ngăn (Calocarpum) hoặc 3 ngăn (Bumelia, Dipholis). Bộ nhụy 1-(2–)4–14(–30) lá noãn. Các lá noãn đẳng số với bao hoa, hoặc tăng về lƣợng tƣơng đối so với bao hoa (nói chung gấp đôi số lƣợng của một vòng nhị lép), riêng chi Sarcosperma thì giảm về lƣợng tƣơng đối so với bao hoa với chỉ 1-2 lá noãn.
Bộ nhụy dạng quả tụ; quả tụ thật; thƣợng. Bầu nhụy 1-(2–)4–14(–30) ngăn. Nhụy 1; mỏng dần đi từ bầu nhụy; ở đỉnh. Vòi nhụy 1; kiểu khô; có nhũ.
Kiểu đính noãn trụ hay trụ tới gốc (Sarcosperma là gốc tới vách khi 1 ngăn và gốc tới đỉnh khi 2 ngăn). Noãn 1 trên mỗi ngăn; bán ngƣợc tới ngƣợc (Sarcosperma là xuôi tới ngƣợc); đơn vỏ bọc; mỏng nhân. Túi phôi phát triển kiểu Polygonum. Các nhân ở cực hợp lại trƣớc khi thụ tinh.
Không hình thành các tế bào đối cực (ba nhân nhanh chóng thoái hóa). Hai tế bào nằm cạnh tế bào trứng có móc. Kiểu hình thành nội nhũ là dạng nhân. Quả dày cùi thịt; không nứt, dạng quả mọng (mặc dù cùi thịt đôi khi là dạng cƣơng mô ở gần mé ngoài), riêng Sarcosperma là quả hạch.
Hạt có nội nhũ hoặc không. Nội nhũ chứa dầu. Hạt với tinh bột hoặc không. Phôi phân biệt rõ.
Phôi không chứa diệp lục. Họ Sapotaceae đƣợc Antoine Laurent de Jussieu lập ra năm 1789 nhƣ là "Sapotae" công bố trong Genera Plantarum số 151. Chi điển hình của họ này là Sapota Mill, Achradaceae Vest, Boerlagellaceae H. Lam, Bumeliaceae Barnhart, Sarcospermataceae H.
GRIN (Germplasm Resources Information Network) chia họ này ra nhƣ sau: Phân họ Chrysophylloideae, Phân họ Sapotoideae: Tông Sapoteae và Sideroxyleae, Phân họ Sarcospermatoideae. Phân loại dƣới đây lấy theo Pennington (1991) hơi khác một chút so với phân loại của GRIN: 3 Phân họ Sarcospermatoideae: có 1 chi ở miền đông nam châu Á và các quần đảo của Indonesia. Tại Việt Nam có 5 loài nhục tử, sến nạc, hồng đạt. Phân họ Sapotoideae: Có khoảng 27-29 chi và khoảng 543 loài.
Nhìn chung, phân họ này có sự phân bố liên nhiệt đới: khoảng 300 loài trong vùng ven Thái Bình Dƣơng-Ấn Độ Dƣơng, khoảng 150 loài ở châu Phi và tại Tân thế giới là khoảng 75 loài. Thuộc Họ: Dầu (Dipterocarpaceae). Cronquist (1981) chia Họ Dầu (Dipterocarpaceae) thành 3 phân họ nhƣ sau: + Dipterocarpoideae Bumett: Có các loài gặp ở nhiệt đới châu Á và Malesia đặc trƣng bởi bao phấn đính gốc, lá đài cùng phát triển thành cánh, quả có hai hoặc 3 ngăn với 2 hạt trong mỗi ngăn. + Monotoideae: có các loài của nhiệt đới châu Phi và Madagaxca, có bao phấn lắc lƣ, lá đài ít phát triển cùng và chỉ đôi khi thành cánh, quả có 2 và ít khi 4 ngăn với 1 – 2 noãn mỗi ngăn.
+ Pakaraimoideae: đặc hữu của vùng Goayanea, nhiệt đới Nam Mỹ, gần gũi với họ phụ Monotaceae, nhƣng có cánh hoa ngắn hơn lá đài và không có cuống, hoa lƣỡng tính, quả có 4 – 5 ngăn, mỗi ngăn có 2 hoặc 4 noãn. Takhtajann (1997) đã chia họ dầu thành 3 phân họ, gồm: Monotoideae, Pakaraimaeoideae, Pseodomonotoideae. Ashton (1982) và Maury – lecon and Curtet (1998) mô tả cây họ Dầu châu Á là cây có nhựa, có kích thƣớc từ nhỏ đến lớn, thƣờng có bạnh vè. Đặc điểm điển hình là lá đơn mọc cách với các lá kèm phát triển để bảo vệ chồi và mọi phần của cây đƣợc bọc một lớp lông bao phủ.
Hoa tự hình chùy, có nhiều chùm. Trên hoa cánh hoa dài hơn lá đài và có lông tơ ở mức độ khác nhau, đài có 3 hoặc 5 lá đài lớn thành các cánh trên quả, tạo thành ống hay lấy quả hay 1 phần, hợp sinh hoặc tự do; khi tự do chúng thƣờng xếp gối lên nhau. Bao phấn 4 thƣờng có 2 túi phấn. Buồng trứng có 3 ngăn, mỗi ngăn chứa 2 noãn.
Đặc trƣng của cây họ Dầu châu Á về giải phẫu là sự có mặt của các ống nhựa trong gỗ và các tia gỗ xếp thành nhiều hang và về mặt hóa học là sự xuất hiện của dầu nhựa damaranic, các triterpen và sesquiterpen trong nhựa, trong khi đó lại thiếu vắng các monoterpen. “Ngô Văn Tuấn, nghiên cứu đặc điểm các cây họ Dầu, 2013”. Maury – Lecon and Curtet (1988), đã liệt kê chi tiết các thông tin liên quan đến cây họ Dầu có thể có 15, 16 hoặc 19 chi với 470 – 480 loài ở châu Á và châu Phi với số liệu chƣa chắc chắn. + Thiết lập các phân chi Shorea, Anthoshorea, Richetia và Rubroshorea.
+ Thiết lập 11 nhóm trong Shorea bao gồm cả chi Doona và Pentacme trƣớc đây. + Lập lại chi Vateriopsis. + Phát hiện Pakaraimaea ở Nam Mỹ. + Phát hiện ra loài Pseudomonotes tropenbosii trong phân họ Monotoidaea gần gũi với Monotes và Marquesia châu Phi.
Nghiên cứu về loài. Sến mật (Madhuca pasquieri H. Lam, 1925), thuộc Họ: Hồng xiêm (Sapotaceae) Họ Hồng xiêm (Sapotaceae) bao gồm khoảng 1.100 loài cây gỗ hay cây bụi thƣờng xanh, phân bố trong khoảng 53-57 chi, phân bố rộng khắp vùng nhiệt đới. Thuộc Họ: Dầu (Dipterocarpaceae).
Nghiên cứu về số lƣợng loài Chò chỉ ở Malaixia: Symington (1943) xuất bản cuốn “ Foresters Mamual of dipterocarps” ở Malaixia có giới thiệu 168 loài với nhiều hình vẽ và khóa phân loại cho 13 nhóm dựa vào lá, quả, lá kèm, thân và vỏ. Các nhóm đó là: Parashora, Pentacme, hopea, Balannocarpus, Diptertocarpus, Anisoptera, Vatica, Cotylelobium và 4 nhóm của Shorea. 5 Ashton (1982) đã hoàn thiện việc xem xét các loài cây họ Dầu ở Malaixia với 10 chi và 368 loài. Số lƣợng loài ở Nam Á (Bănglađét, Myanma, Ấn Độ, Nê Pan, Sri Lanca): Dyer (1974) trong cuốn “J.Hooker’s Flora British India” đã mô tả 92 loài của 9 chi cây họ Dầu đó là các chi sau: Dipterocarpus, Ancistrocladus, Anisoptera, Vatlca, Shoera, Hopea, Doona, Vateria, Monoporanda.
Tổ chức lƣơng thực và nông nghiệp của Liên hợp quốc (FAO, 1985) đã thông báo khu vực Nam Á có cả thảy 10 chi với 99 loài cây họ Dầu bao gồm các chi sau: Dipteracarpus 19 loài, Banlanocarpus 1 loài, Anisoptera 3 loài, Vaitca 9 loài, Shorea 27 loài, Hopea 18 loài, Parashorea 2 loài, Vateria 3 loài, Monoporanda 15 loài, Cotylelobium 2 loài.