Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên được thành lập theo Quyết định số 3029/1999/QĐ-UB ngày 17/12/1999 và Quyết định số 1467/2000/QĐ-UB ngày 15/6/2000 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Khu bảo tồn có chức năng quản lý, bảo tồn và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng đặc dụng, bảo tồn nguồn gen động thực vật quý hiếm gắn liền với nhiệm vụ phòng hộ đầu nguồn hệ thống sông Chu và hồ Cửa Đạt. Kết quả điều tra cơ bản ghi nhận hệ thực vật tại đây có 1.142 loài, 620 chi và 180 họ (trong đó ngành Mộc lan chiếm 87,3% tổng số loài; 35 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam). Tuy nhiên, phần lớn các công trình trước đây mới dừng lại ở mức độ thống kê danh lục, chưa đi sâu vào đặc điểm sinh thái, hình thái, phân bố và động thái tái sinh của từng loài thực vật cụ thể. Hiện nay, nhiều loài thực vật thân gỗ quý hiếm, có giá trị kinh tế cao như Sến mật, Chò chỉ, Táu mật, Trầm hương, Kim giao đang rơi vào tình trạng suy giảm số lượng cá thể và trở nên khan hiếm trước áp lực khai thác của dân cư bản địa. Từ thực tiễn đó, đề tài được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học phục vụ quản lý và bảo tồn loài.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Mục tiêu chung: Xây dựng cơ sở khoa học để bảo tồn và phát triển các loài thực vật quý hiếm nói chung và hai loài Sến mật (Madhuca pasquieri H. Lam), Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
- Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được đặc điểm lâm học loài và thực trạng bảo tồn loài Sến mật và Chò chỉ tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất được một số giải pháp để bảo tồn và phát triển thực vật quý hiếm nói chung và hai loài Sến mật và Chò chỉ tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
Để đạt được các mục tiêu trên, khóa luận triển khai 3 nhiệm vụ nghiên cứu chính:
- Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Sến mật và Chò chỉ tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
- Tìm hiểu thực trạng bảo tồn hiện nay của hai loài Sến mật và Chò chỉ tại Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất một số giải pháp để bảo tồn và phát triển 2 loài tại Khu BTTN Xuân Liên.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hai loài cây gỗ bản địa gồm Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubard) H. Lam) thuộc họ Hồng xiêm (Sapotaceae) và Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie) thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae).
- Phạm vi không gian: Diện tích rừng tự nhiên thuộc Khu BTTN Xuân Liên, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa (bao gồm vùng lõi có diện tích 27.123,2 ha và vùng đệm 36.420,59 ha thuộc địa bàn 5 xã: Xuân Cẩm, Vạn Xuân, Yên Nhân, Lương Sơn, Bát Mọt).
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực địa và tổng hợp nội nghiệp được tiến hành từ tháng 2 năm 2015 đến tháng 5 năm 2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các nguyên lý sinh thái học rừng nhiệt đới và phân loại học thực vật. Khóa luận vận dụng hệ thống phân loại học của Pennington (1991), Cronquist (1981) và mạng lưới thông tin nguồn gen GRIN đối với họ Hồng xiêm (Sapotaceae); hệ thống phân loại họ Dầu (Dipterocarpaceae) theo Cronquist (1981), Takhtajan (1997), Ashton (1982) và Hoàng Văn Sâm - Xia Nanhe (2011). Về sinh thái học quần xã và cấu trúc thảm thực vật, đề tài kế thừa quan điểm cấu trúc tầng tán và quy luật tái sinh rừng mưa nhiệt đới của Richards (1959, 1968), Van Steenis (1956), Aubréville (1938), Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Văn Trương (1984), cùng hệ thống phân loại trạng thái rừng phục hồi theo Loeschau (1966). Các văn bản pháp lý làm căn cứ bao gồm Quyết định 3029/1999/QĐ-UB và Quyết định 1467/2000/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Khóa luận sử dụng tổ hợp các phương pháp điều tra lâm học truyền thống kết hợp xử lý dữ liệu không gian:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập dữ liệu khí tượng thủy văn, thổ nhưỡng, địa hình, các báo cáo lâm nghiệp và tài liệu điều tra kinh tế - xã hội địa phương.
- Phương pháp phỏng vấn và đánh giá nhanh nông thôn (PRA): Phỏng vấn cán bộ lâm sinh, kiểm lâm và cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng đệm nhằm thu thập thông tin về phân bố cá thể, lịch sử khai thác và các nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên.
- Phương pháp điều tra thực địa:
- Điều tra sơ thám: Thiết lập 9 tuyến điều tra xuyên rừng dựa trên bản đồ địa hình và kinh nghiệm của kiểm lâm sở tại.
- Điều tra phân bố và cấu trúc lâm phần: Trên 9 tuyến điều tra, tiến hành ghi nhận tọa độ GPS, độ cao, đo đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) bằng thước kẹp kính hoặc thước dây, đo chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) bằng thước đo cao (hoặc mục trắc bằng mắt tại các vị trí vách đá hiểm trở). Thiết lập 6 ô tiêu chuẩn (OTC) điển hình có diện tích 1.000 $m^2$ ($25 \times 40$ m) phân bố tại các đai cao và dạng địa hình chân núi, sườn dốc và đỉnh núi.
- Mô tả hình thái học: Chọn 5 cây trưởng thành tiêu chuẩn cho mỗi loài để thu thập số liệu chi tiết về thân, vỏ, cành, lá, hoa, quả và hạt theo phiếu điều tra thực vật chuẩn hóa.
- Điều tra vật hậu học: Theo dõi trực tiếp chu kỳ ra hoa, tạo quả ngoài thực địa kết hợp đối chiếu tài liệu nghiên cứu chuyên ngành.
- Điều tra tái sinh dưới tán rừng: Trong mỗi OTC diện tích 1.000 $m^2$, lập 5 ô dạng bản (ODB) diện tích 25 $m^2$ ($5 \times 5$ m) tại 4 góc và 1 ô ở trung tâm (tổng 15 ODB cho 3 OTC mỗi loài) để kiểm đếm số lượng cây con, phẩm chất sinh trưởng, nguồn gốc tái sinh (hạt hay chồi) và phân cấp chiều cao (<20 cm, 20-50 cm, 50-100 cm, >100 cm).
- Điều tra tái sinh quanh gốc cây mẹ: Chọn 6 cây mẹ sinh trưởng tốt, tán đều cho mỗi loài; bố trí 6 ODB diện tích 25 $m^2$ cho mỗi cây mẹ (gồm 2 ô trong tán, 2 ô mép tán và 2 ô ngoài tán) với tổng số 36 ODB nhằm đánh giá quy luật phát tán hạt và mật độ tái sinh tự nhiên.
- Đánh giá tình hình gây trồng: Áp dụng phương pháp chuyên gia thông qua trao đổi với bộ phận kỹ thuật lâm sinh của Khu bảo tồn và khảo sát vườn ươm loài Chò chỉ.
- Phương pháp nội nghiệp: Tổng hợp, thống kê toán học lâm nghiệp, số hóa dữ liệu không gian và xây dựng bản đồ phân bố các tiểu khu bằng các phần mềm chuyên dụng gồm Microsoft Office, GIS và MapInfo.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu đo đếm sơ cấp từ 9 tuyến điều tra, 6 OTC, 36 ODB ngoài thực địa và số liệu thứ cấp do Ban quản lý Khu BTTN Xuân Liên cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 2: Tổng quan nghiên cứu
Chương này khái quát các công trình nghiên cứu về phân loại học, cấu trúc và tái sinh rừng trên thế giới và tại Việt Nam. Về phân loại, họ Hồng xiêm (Sapotaceae) có khoảng 1.100 loài thuộc 53-57 chi; họ Dầu (Dipterocarpaceae) có khoảng 470-480 loài phân bố tại châu Á và châu Phi. Tại Việt Nam, họ Dầu có 6 chi với trên 40 loài (Hoàng Văn Sâm và Xia Nanhe năm 2011 xác định 43 loài và dưới loài). Tác giả tổng kết các công trình lâm học kinh điển về cấu trúc tầng phiến của Richards, Odum, Kraft và quy luật tái sinh tự nhiên của Aubréville, Van Steenis. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Thái Văn Trừng (1978), Trần Ngũ Phương (1965, 1974), Nguyễn Văn Trương (1974, 1984), Vũ Tiến Hinh (1991), Phạm Quang Vinh (2011 - nghiên cứu Sến mật tại Tam Quy) và Ngô Văn Tuấn (2013 - nghiên cứu họ Dầu tại Xuân Liên) đã đặt nền móng cho việc hiểu rõ tổ thành loài và tái sinh rừng. Về địa bàn Xuân Liên, chương tổng quan chỉ rõ các dự án trước đây chỉ tập trung vào Pơ mu, Sa mu, Vượn đen má trắng hoặc các dự án sinh kế (GIZ, SIDA, World Vision), hoàn toàn thiếu vắng công trình chuyên sâu về hai loài Sến mật và Chò chỉ.
Chương 4: Điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 4 cung cấp dữ liệu toàn diện về lập địa và nhân sinh tại khu vực nghiên cứu:
- Tọa độ địa lý: $19^\circ 52'$ đến $20^\circ 02'$ vĩ độ Bắc và $104^\circ 58'$ đến $105^\circ 15'$ kinh độ Đông; diện tích 27.123,2 ha (phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 10.xxx ha, phân khu phục hồi sinh thái: 12.362,9 ha, phân khu hành chính dịch vụ: 3.xxx ha); vùng đệm rộng 36.420,59 ha.
- Địa hình chia cắt mạnh, độ dốc 15-32°, có nhiều đỉnh cao như Bù Ta Leo (1.605 m), Bù Gió (1.400 m), Bù Hòn Hàn (1.208 m).
- Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh: nhiệt độ trung bình năm 23-24°C (tháng 1 từ 15,5-16,5°C, nhiệt độ thấp tuyệt đối 2°C; tháng 7 từ 27-28°C, cao tuyệt đối dưới 40°C); lượng mưa 1.600-2.000 mm/năm (tập trung 60-80% vào tháng 5-10); độ ẩm trung bình 85-86%; lượng bốc hơi 761-895 mm/năm. Thủy văn chủ đạo là hệ thống sông Chu cùng các sông nhánh (sông Khao, sông Đạt, sông Đằn) và lòng hồ thủy điện Cửa Đạt (dung tích 1,3 tỷ $m^3$, tưới tiêu cho 86.000 ha lúa).
- Thổ nhưỡng gồm đất feralit vàng đỏ trên sa thạch và macma, đất phù sa và dốc tụ.
- Thảm thực vật phân thành 4 hệ sinh thái chính: Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình (đai cao 800-1.600 m); Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp (dưới 800 m); Hệ sinh thái rừng thứ sinh (rừng tre nứa, rừng phục hồi sau nương rẫy, thảm cỏ cây bụi); Hệ sinh thái ao hồ Cửa Đạt. Đa dạng sinh học gồm 752 loài thực vật bậc cao có mạch (38 loài Sách đỏ, 4 loài đặc hữu hẹp) và 369 loài động vật (38 loài thú, 134 loài chim, 54 loài bò sát - ếch nhái, 143 loài bướm).
- Kinh tế - xã hội vùng đệm: Gồm 50 thôn bản thuộc 5 xã, tổng số dân 36.xxx người, mật độ 51,5 người/$km^2$. Dân tộc Thái và Mường chiếm 81,5%, dân tộc Kinh chiếm 18,5%. Sản xuất nông lâm nghiệp chiếm 99%, thu nhập bình quân đầu người chỉ đạt 126.460 đồng/tháng; có 4/5 xã thụ hưởng Chương trình 135. Tỷ lệ phụ thuộc vào rừng lên tới 92,5% số hộ (45,5% chuyên khai thác củi; 34,16% kết hợp dược liệu và củi; 11,8% khai thác không chuyên).
Chương 5: Kết quả nghiên cứu
Chương 5 trình bày toàn bộ phát hiện thực nghiệm về hai loài cây nghiên cứu:
- Hình thái và sinh thái học loài Sến mật (Madhuca pasquieri): Cây gỗ lớn, cao đến 30 m, đường kính ngực trên 100 cm; thân thẳng, vỏ nâu thẫm ánh đỏ nứt vảy chữ nhật, có nhựa mủ trắng sữa. Lá đơn mọc cách, hình trứng ngược - thuôn, dài 12-16 cm, rộng 4-6 cm, gân bên 13-15 đôi, cuống lá 1,5-3,5 cm; lá non và lá rụng có màu đỏ. Cụm hoa chùm ở nách lá đỉnh cành mang 2-3 hoa lưỡng tính; đài cao 4-5 mm có lông; tràng hoa trắng vàng dài 5 mm mang 6-10 thùy; 12-22 nhị; bầu 6-8 ô. Quả mọng hình bầu dục dài 2,5-3 cm, chứa 1-5 hạt. Mùa hoa nở tháng 2-4, quả chín tháng 11-12. Tái sinh bằng hạt và chồi.
- Hình thái và sinh thái học loài Chò chỉ (Parashorea chinensis): Cây gỗ lớn vượt tán cao 30-45 m, đường kính 60-80 cm hoặc hơn; thân tròn thẳng, gốc có bạnh nhỏ, cành lớn cong vặn; vỏ ngoài xám nhạt nứt dọc nhẹ, thịt vỏ vàng hoặc ánh hồng có mùi thơm, nhựa màu vàng. Lá hình trái xoan, 2 mặt phủ lông hình sao, 15-20 đôi gân bên nổi rõ; lá kèm dài khoảng 2 cm sớm rụng. Hoa tự bông mọc ở nách lá hay đầu cành, thơm nhẹ, có đôi lá bắc trắng, đài rời. Quả mang 5 cánh phát triển từ đài hoa (2 cánh lớn, 3 cánh nhỏ). Mùa hoa tháng 5-6, quả chín tháng 7-9. Phân bố ở sườn dốc 10-25°, ưa đất feralit tầng thảm mục dày.
- Quần hợp thực vật mọc kèm: Cả hai loài cùng mọc hỗn giao với các loài cây lá rộng thuộc họ Dẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Mộc lan (Magnoliaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) như Giổi, Trâm, Thị, Dẻ, Dung; tầng bụi có Trọng đũa (Ardisia aciphylla), Chè đuôi hoa (Camellia caudata), Chân chim; tầng thảm tươi có Dương xỉ (Cyathea contaminans), Ráy (Alocasia macrorrhizos), Sặt (Arundinaria sat), cỏ Hòa thảo.
- Phân bố không gian:
- Sến mật phân bố ở độ cao 200-1.200 m, xuất hiện tại Trạm Kiểm lâm Sông Khao, Hón Can, Hón Mong, bản Vịn; tập trung tại Vịn - Huối Cò (Tiểu khu 484, đai cao 400-800 m), suối Hón Mong (Tiểu khu 495, đai 200-400 m), Hón Chườn (Tiểu khu 512, đai 300-500 m) và Trạm Hón Can - Bù Ta Leo - Bù Gió (Tiểu khu 520, đai 300-1.200 m).
- Chò chỉ phân bố đều từ độ cao 100-1.200 m ven khe suối, vách đá thuộc các Tiểu khu 484, 487, 497, 516, 520.
| Độ cao (m) |
Tiểu khu phân bố |
Trạng thái rừng (theo Loeschau 1966) |
Loài ghi nhận |
| 100 – 400 |
484; 487; 495 |
Lá rộng thường xanh $IIIa_1, IIIa_{1-2}, IIIa_2$ |
Sến mật, Chò chỉ |
| 400 – 800 |
497; 512; 516 |
Lá rộng thường xanh $IIIa_2, IIIa_3$ |
Sến mật, Chò chỉ |
| 800 – 1200 |
516; 520 |
Lá rộng thường xanh $IIIa_3, IIIb$ |
Sến mật, Chò chỉ |
- Cấu trúc mật độ tái sinh tầng cây con: Mật độ cây tái sinh tự nhiên chung của lâm phần dao động từ 360 đến 510 cây/ha và có xu hướng tăng dần theo độ cao địa hình.
| Ô tiêu chuẩn (OTC) |
Độ cao (m) |
Mật độ cây tái sinh chung (cây/ha) |
Mật độ Sến mật (cây/ha) |
Mật độ Chò chỉ (cây/ha) |
| OTC 1 |
800 – 1200 |
510 |
40 |
30 |
| OTC 2 |
800 – 1200 |
390 |
30 |
20 |
| OTC 3 |
400 – 800 |
480 |
50 |
20 |
| OTC 4 |
400 – 800 |
410 |
30 |
10 |
| OTC 5 |
100 – 400 |
370 |
40 |
40 |
| OTC 6 |
100 – 400 |
360 |
20 |
30 |
- Khảo sát tái sinh Sến mật trên 9 tuyến điều tra:
| Chỉ tiêu |
Số tuyến điều tra |
Số tuyến gặp Sến mật |
Chiều cao <50 cm |
Chiều cao 51-100 cm |
Chiều cao >100 cm |
Tổng cộng |
| Số lượng (cây) |
9 |
5 |
0 |
0 |
10 |
10 |
| Tỷ lệ (%) |
100% |
55,56% |
0% |
0% |
100% |
100% |
- Tái sinh quanh gốc cây mẹ: Khảo sát 36 ODB quanh 6 cây mẹ cho thấy khả năng tái sinh tự nhiên của cả hai loài đều rất thấp; cây con chủ yếu có nguồn gốc từ hạt, tái sinh chồi rất kém phát triển; mật độ cây con giảm dần từ mép tán ra ngoài tán.
- Thực trạng bảo tồn và đề xuất giải pháp: Công tác bảo vệ rừng đã hạn chế việc chặt phá lâm sản trái phép; Khu bảo tồn đã tiến hành gieo ươm giống Chò chỉ nhân tạo. Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp bảo tồn:
- Nhóm kỹ thuật: Bảo tồn nguyên vị (in-situ) bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, mở tán tạo lỗ trống sinh thái; bảo tồn chuyển vị (ex-situ) qua nhân giống gieo ươm và trồng rừng bán tự nhiên.
- Nhóm kinh tế - xã hội: Chuyển dịch cơ cấu cây trồng vùng đệm, hỗ trợ vốn và giống thâm canh thay thế phá rừng làm nương rẫy, phát triển làng nghề mây tre đan để giải quyết việc làm.
- Nhóm cơ chế, chính sách: Tăng cường tuần tra liên ngành, củng cố quy ước bảo vệ rừng cộng đồng và hoàn thiện chính sách giao khoán khoanh nuôi bảo vệ rừng đặc dụng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã định lượng hóa và xác lập các dẫn liệu thực địa quan trọng:
- Xác định đầy đủ đặc điểm hình thái và chỉ tiêu sinh trắc học của hai loài: Sến mật đạt chiều cao vút ngọn tới 30 m, đường kính ngang ngực vượt trên 100 cm; Chò chỉ đạt chiều cao 30-45 m, đường kính 60-80 cm.
- Xác lập biên độ phân bố đai cao và trạng thái rừng: Sến mật phân bố từ 200 m đến 1.200 m; Chò chỉ phân bố từ 100 m đến 1.200 m. Quần thể tập trung chủ yếu tại 7 tiểu khu trọng điểm (484, 487, 495, 497, 512, 516 và 520) thuộc các trạng thái rừng lá rộng thường xanh $IIIa_1, IIIa_2, IIIa_3$ và $IIIb$.
- Đánh giá định lượng mật độ cây tái sinh: Mật độ tầng cây con tái sinh chung dao động từ 360 đến 510 cây/ha; trong đó mật độ tái sinh tự nhiên của Sến mật đạt từ 20 đến 50 cây/ha, của Chò chỉ đạt từ 10 đến 40 cây/ha. Mật độ tái sinh có xu thế tỷ lệ thuận với đai cao (đạt trị số cao nhất tại đai 800-1.200 m).
- Phát hiện tình trạng suy thoái cấu trúc lớp cây con của Sến mật: Tần số bắt gặp trên các tuyến điều tra chỉ đạt 55,56%; trên toàn bộ 9 tuyến điều tra chỉ ghi nhận được 10 cá thể tái sinh và 100% số cá thể này đều có chiều cao $H_{vn} > 100$ cm, hoàn toàn thiếu vắng thế hệ cây mạ và cây con ở cấp chiều cao dưới 100 cm.
- Hệ thống hóa các giải pháp bảo tồn đồng bộ: Đề xuất giải pháp bảo tồn nguyên vị gắn liền với điều tiết tán che rừng, hỗ trợ xúc tiến tái sinh; bảo tồn chuyển vị thông qua kỹ thuật gieo ươm cây con; đồng thời gắn kết giải pháp sinh kế vùng đệm để triệt tiêu nguyên nhân gây áp lực lên tài nguyên rừng (nơi 92,5% số hộ dân khai thác lâm sản phục vụ đời sống).
- Đóng góp khoa học: Khóa luận đã khắc phục hạn chế của các đề tài trước đó vốn chỉ thống kê danh mục loài chung chung tại Khu BTTN Xuân Liên; cung cấp bộ dữ liệu thực địa chi tiết về lâm học, cấu trúc tái sinh và bản đồ phân bố tiểu khu của hai loài cây gỗ quý hiếm, tạo cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác quy hoạch bảo tồn nguồn gen thực vật tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế do tác giả tự xác định và giới hạn thực tế của đề tài:
- Thời gian thực hiện đề tài ngắn (kéo dài trong 4 tháng, từ tháng 2/2015 đến tháng 5/2015), do đó chưa thể theo dõi trọn vẹn toàn bộ chu kỳ vật hậu học trong năm của hai loài (đặc biệt là mùa quả chín của Sến mật rơi vào tháng 11-12 và mùa hoa của Chò chỉ rơi vào tháng 5-6), nhiều chỉ tiêu sinh sản phải dựa vào phương pháp kế thừa.
- Địa hình chia cắt hiểm trở, núi cao dốc đứng khiến việc tiếp cận một số sườn đỉnh khó khăn, một số chỉ tiêu chiều cao cây phải sử dụng phương pháp ước lượng mục trắc bằng mắt thay vì đo đạc trực tiếp bằng máy móc.
- Khảo sát tình hình gây trồng mới dừng lại ở mức độ tham vấn chuyên gia và kế thừa tài liệu tại vườn ươm, chưa xây dựng được mô hình thí nghiệm sinh trưởng thực địa.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cần thiết lập các ô định vị cố định để theo dõi động thái sinh trưởng, tỷ lệ sống sót và cơ chế đào thải tự nhiên của lớp cây tái sinh qua nhiều năm.
- Nghiên cứu sâu về đặc tính sinh học hạt giống, khả năng giữ sức nảy mầm và ảnh hưởng của cường độ ánh sáng, thảm mục đất đến tỷ lệ nảy mầm của hạt Sến mật và Chò chỉ.
- Hoàn thiện quy trình nhân giống nhân tạo và xây dựng mô hình trồng thử nghiệm làm giàu rừng bằng hai loài cây này tại các diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy ở vùng đệm.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng học thuật và quản lý thực tiễn:
- Đối tượng sử dụng: Cán bộ quản lý khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia; kiểm lâm địa bàn; giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Quản lý tài nguyên thiên nhiên, Lâm sinh và Bảo tồn đa dạng sinh học.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Phương pháp luận và hệ thống biểu mẫu điều tra thực địa lâm học (Biểu 01 điều tra phân bố loài, Biểu 02 điều tra tái sinh dưới tán rừng, Biểu 03 điều tra cây tái sinh quanh gốc cây mẹ và Phiếu mô tả đặc điểm hình thái thực vật).
- Quy trình điều tra phân cấp cấu trúc cây tái sinh theo cấp chiều cao và vị trí không gian đối với tán cây mẹ (trong tán, mép tán, ngoài tán).
- Nguồn dẫn liệu thực chứng về lập địa, độ cao phân bố và đặc tính sinh thái của hai họ thực vật rừng nhiệt đới tiêu biểu là Sapotaceae và Dipterocarpaceae tại vùng Bắc Trung Bộ.
Câu hỏi thường gặp
Loài Sến mật và Chò chỉ tại Khu BTTN Xuân Liên phân bố chủ yếu ở đai cao và trạng thái rừng nào?
Cả hai loài phân bố trong khoảng đai cao từ 100 m đến 1.200 m so với mực nước biển, tập trung chủ yếu tại các Tiểu khu 484, 487, 495, 497, 512, 516 và 520. Các trạng thái rừng xuất hiện hai loài này gồm rừng kín thường xanh mưa mùa cây lá rộng nhiệt đới thuộc các trạng thái $IIIa_1, IIIa_{1-2}, IIIa_2, IIIa_3$ và $IIIb$ (theo phân loại của Loeschau 1966).
Mật độ cây tái sinh tự nhiên của Sến mật và Chò chỉ dưới tán rừng biến thiên như thế nào theo độ cao?
Mật độ cây tái sinh tự nhiên của Sến mật dao động từ 20 đến 50 cây/ha; mật độ tái sinh của Chò chỉ dao động từ 10 đến 40 cây/ha (trên tổng mật độ tầng cây con chung của lâm phần là 360 đến 510 cây/ha). Mật độ cây con của cả hai loài có xu hướng tỷ lệ thuận với đai cao, đạt mật độ lớn nhất ở đai cao 800 - 1.200 m và thấp nhất ở đai cao 100 - 400 m.
Kết quả điều tra trên 9 tuyến thực địa phản ánh điều gì về cấu trúc lớp cây con loài Sến mật?
Tỷ lệ bắt gặp cây tái sinh Sến mật trên các tuyến điều tra đạt 55,56% (5/9 tuyến). Tuy nhiên, số lượng cá thể ghi nhận được rất ít (tổng cộng 10 cây trên toàn bộ 9 tuyến) và 100% số cá thể này đều thuộc cấp chiều cao lớn hơn 100 cm ($H_{vn} > 100$ cm). Hoàn toàn không ghi nhận được cây con ở các cấp chiều cao dưới 50 cm và từ 50 đến 100 cm, phản ánh quá trình tái sinh tự nhiên từ hạt của loài đang bị gián đoạn nghiêm trọng.
Những áp lực kinh tế - xã hội nào từ vùng đệm đang trực tiếp tác động đến công tác bảo tồn hai loài cây này?
Vùng đệm Khu bảo tồn có 5 xã với tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số (Thái, Mường) chiếm 81,5%, thu nhập bình quân đầu người rất thấp (126.460 đồng/tháng), 4/5 xã thuộc diện Chương trình 135. Có tới 92,5% số hộ dân sinh sống dựa vào việc khai thác tài nguyên rừng (trong đó 45,5% hộ chuyên khai thác củi, 34,16% hộ khai thác kết hợp củi và dược liệu). Nhu cầu lấy gỗ và củi đốt đe dọa trực tiếp tới sự tồn tại của các cây gỗ lớn và cản trở sự phục hồi của cây con.
Tác giả đề xuất những giải pháp kỹ thuật lâm sinh cụ thể nào để phục hồi hai loài?
Về bảo tồn nguyên vị (in-situ), tác giả đề xuất áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động vào tán rừng nhằm điều chỉnh độ tàn che, dọn bớt thảm mục dày và cây bụi chèn ép, tạo lỗ trống sinh thái giúp cây con tiếp nhận ánh sáng để phát triển tham gia vào tầng tán chính. Về bảo tồn chuyển vị (ex-situ), thực hiện thu hái hạt giống từ các cây mẹ đạt tiêu chuẩn, xây dựng quy trình gieo ươm cây con có bầu tại vườn ươm để phục vụ công tác trồng rừng bổ sung và làm giàu rừng tự nhiên.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Quân Anh đã giải quyết hoàn chỉnh các mục tiêu nghiên cứu thông qua việc xác định đặc điểm lâm học, lập địa phân bố và hiện trạng tái sinh tự nhiên của hai loài cây gỗ quý hiếm Sến mật (Madhuca pasquieri) và Chò chỉ (Parashorea chinensis) tại Khu BTTN Xuân Liên. Các phát hiện định lượng thực địa cho thấy cả hai loài đều có năng lực tái sinh tự nhiên rất thấp và phân bố bị thu hẹp cục bộ tại một số tiểu khu, chịu ảnh hưởng lớn từ các hoạt động dân sinh vùng đệm. Hệ thống 3 nhóm giải pháp bảo tồn gồm kỹ thuật lâm sinh, hỗ trợ kinh tế xã hội và cơ chế quản lý được đề xuất có tính khả thi cao, đóng vai trò là cơ sở khoa học tin cậy phục vụ chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tài nguyên rừng tại địa phương.