Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học đề tài "Bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh hiện nay" được sinh viên Nguyễn Thị Hoa thực hiện năm 2019 tại Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Thị Minh Thảo, thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Theo trình bày của tác giả trong văn bản, lý do lựa chọn đề tài xuất phát từ vai trò của di sản văn hóa đối với đời sống tinh thần xã hội và sự nghiệp phát triển đất nước. Di sản văn hóa kết tinh các giá trị truyền thống, góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII. Chùa Phật Tích (tên chữ là Vạn Phúc Tự) tọa lạc tại sườn núi Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, được xác định là một trong những trung tâm Phật giáo cổ xưa nhất của Việt Nam, nơi tiếp nhận luồng du nhập Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ từ thế kỷ II sau Công nguyên. Năm 1962, công trình được Bộ Văn hóa xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 313/VH-VP ngày 28 tháng 4 năm 1962. Đến ngày 31 tháng 12 năm 2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2408/QĐ-TTg xếp hạng chùa Phật Tích là Di tích quốc gia đặc biệt.

Tuy nhiên, trước tác động của điều kiện thời tiết, quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng của hoạt động du lịch tâm linh, di sản văn hóa chùa Phật Tích đối mặt với nguy cơ biến dạng các yếu tố gốc nếu thiếu cơ chế quản lý khoa học. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và xác lập giải pháp bảo tồn di sản chùa Phật Tích là yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận lẫn thực tiễn địa phương.

Về mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, văn bản xác định cụ thể:

  • Mục đích nghiên cứu: Tìm hiểu các giá trị di sản văn hóa chùa Phật Tích, khảo sát thực trạng công tác bảo tồn di sản, từ đó đề xuất định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn di sản trên địa bàn huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
  • Ba nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Vận dụng quan điểm lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về di sản văn hóa, kết hợp tổng kết thực tiễn để làm rõ mối quan hệ, vai trò của công tác bảo tồn di sản văn hóa đối với đời sống nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
    2. Khảo sát, nghiên cứu thực trạng công tác bảo tồn di sản văn hóa tại chùa Phật Tích, đánh giá thành tựu, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân dẫn đến thực trạng.
    3. Xác định phương hướng và xây dựng các giải pháp khả thi nhằm bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa chùa Phật Tích, đóng góp tư liệu phục vụ công tác quản lý văn hóa cơ sở.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi không gian: Không gian di tích chùa Phật Tích thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du, đặt trong tổng thể di sản văn hóa tỉnh Bắc Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình bảo tồn từ thời điểm tái lập tỉnh Bắc Ninh (năm 1997) đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2019).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận của khóa luận được xây dựng dựa trên thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, cùng đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước. Cụ thể, tác giả viện dẫn Sắc lệnh số 65/SL ngày 23 tháng 11 năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc ấn định nhiệm vụ của Đông Phương Bác cổ Học viện trong việc bảo tồn toàn bộ cổ tích trên đất nước Việt Nam; Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (ngày 16 tháng 7 năm 1998) về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc"; Luật Di sản văn hóa năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); và Chương trình số 17-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh về bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc.

Khóa luận làm rõ các khái niệm công cụ:

  • Văn hóa: Tiếp cận từ quan niệm của các nhà nghiên cứu Edward Sapir, William Isaac Thomas, Ralph Linton, Từ điển tiếng Việt và định nghĩa của UNESCO năm 2002, xác định văn hóa là tổng thể giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo qua thực tiễn tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội.
  • Di sản văn hóa: Căn cứ Điều 1 Luật Di sản văn hóa, bao gồm di sản văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền qua các thế hệ.
  • Bảo tồn di sản văn hóa: Phân tách thành hai trạng thái phương pháp luận:
    • Bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn tĩnh): Ứng dụng khoa học kỹ thuật (chụp ảnh, ghi hình, đồ họa vi tính 3D) nhằm giữ nguyên trạng hiện vật về vị trí, kích thước, kiểu dáng, chất liệu, hoặc lưu trữ văn hóa phi vật thể trong bảo tàng, hồ sơ tư liệu.
    • Bảo tồn trên cơ sở kế thừa (bảo tồn động): Bảo tồn các hiện tượng văn hóa ngay trong lòng đời sống sinh hoạt của cộng đồng chủ thể, kết hợp phục chế có căn cứ khoa học.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả phối hợp các phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp logic kết hợp phương pháp lịch sử: Phân tích sự biến đổi của di tích và chính sách bảo tồn theo các giai đoạn lịch sử từ triều Lý, Trần, Lê - Trịnh đến hiện đại.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thu thập thông tin thực tế về hoạt động lễ hội, công tác quản lý và thái độ ứng xử của du khách tại di tích.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Xử lý dữ liệu từ các văn bản quản lý nhà nước, công trình khảo cổ học, nghiên cứu văn hóa và số liệu kinh tế - xã hội địa phương.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:

  • Thư tịch và văn khắc cổ: "Đại Việt sử ký toàn thư", văn bia "Vạn Phúc đại thiền tự bi" khắc năm Chính Hòa thứ VII (1686).
  • Công trình học thuật: Các nghiên cứu của Trần Đình Luyện ("Văn hiến Kinh Bắc", "Bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Kinh Bắc"), Chu Quang Trứ ("Mỹ thuật Lý Trần, Mỹ thuật Phật giáo"), Lê Viết Nga ("Chùa Dâu", "Văn Miếu Bắc Ninh"), Hoàng Vinh, Nguyễn Chí Bền, Phan Huy Lê, Đặng Văn Bài.
  • Báo cáo hành chính và báo chí: Báo cáo kinh tế - xã hội huyện Tiên Du năm 2017 - 2018, các văn bản của Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, các bài viết trên Báo Bắc Ninh của lãnh đạo cơ quan văn hóa địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH HUYỆN TIÊN DU TỈNH BẮC NINH

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về di sản và khảo cứu toàn diện điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Tiên Du cùng lịch sử văn hóa chùa Phật Tích. Huyện Tiên Du có diện tích tự nhiên 10.838,94 ha (trên 9.500 ha sau điều chỉnh), dân số trên 42.000 người, gồm 14 đơn vị hành chính (thị trấn Lim và 13 xã). Năm 2017, tốc độ tăng trưởng GRDP của huyện đạt 11,9%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch với công nghiệp - xây dựng chiếm 68,7%, thương mại - dịch vụ chiếm 25,8%, nông lâm thủy sản chiếm 5,5%.

Về lịch sử hình thành, chùa Phật Tích được xây dựng vào năm Đinh Dậu, niên hiệu Long Thụy Thái Bình thứ IV đời vua Lý Thánh Tông (1057). Năm 1071, vua Lý Thánh Tông về thăm chùa và ngự bút viết chữ "Phật" dài 6 thước (khoảng 2,4 m) để khắc vào đá. Năm 1383, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông thăm cung Bảo Hòa (thư viện do Trần Nhân Tông làm viện trưởng) tại chùa và biên soạn 8 quyển "Bảo Hòa dư bút". Năm 1384, chùa là nơi tổ chức kỳ thi thái học sinh tuyển chọn nhân tài toàn quốc. Thời Lê - Trịnh (1623 - 1657), Đệ nhất cung tần Trần Thị Ngọc Am hưng công tôn tạo cảnh quan chùa với quy mô bề thế. Sau khi bị tàn phá vào năm 1948 trong kháng chiến chống Pháp, năm 1958 Bộ Văn hóa cho phục dựng 3 gian nhỏ, và đến nay khuôn viên chùa đã phát triển lên 22 gian công trình theo bố cục "nội công ngoại quốc".

Hệ thống di sản vật thể và phi vật thể tại chùa Phật Tích được tác giả thống kê chi tiết theo bảng sau:

Tên hiện vật / Công trình Niên đại / Thời gian tạo lập Đặc điểm kích thước, chất liệu và nghệ thuật điêu khắc
Tượng Phật A Di Đà Thời Lý (năm 1057) Tác phẩm đá nguyên khối; mình tượng cao 1,87 m, tổng chiều cao cả bệ sen đạt 2,69 m; chân tảng đá hình hộp vuông cạnh 0,83 m; đường nét mềm mại chịu ảnh hưởng văn hóa bản địa.
Mười pho tượng linh thú Thời Lý (thế kỷ XI) Gồm 5 cặp tượng tròn nguyên khối: sư tử, voi, ngựa, trâu, tê giác đặt trên bệ đá sen trước sân tòa tam bảo.
Pho tượng Thiền sư Chuyết Chuyết Thời Lê Trung hưng (viên tịch năm 1644) Tượng táng bó cốt (nhục thân) phủ sơn ta, vải và mạt cưa; được phục chế năm 1993 với chiều cao 67,3 cm, trọng lượng 10 kg.
Ao Rồng (Long Trì) Thời Lý (thế kỷ XI) Kích thước dài 7 m, rộng 5 m, sâu 2,2 m; đáy có thềm đá bán nguyệt đường kính 3,8 m chạm nổi hình đôi rồng thời Lý và sóng nước (thủy ba).
Vườn tháp Phật Tích Thế kỷ XVII - XVIII (thời Lê - Trịnh) Gồm 32 ngọn tháp đá và đất nung; tiêu biểu có Tháp Phổ Quang (1664, cao 4 tầng), Tháp Viên Dung (1679), Tháp Hiển Quang (1680), Tháp Viên Quang (1684), Tháp Bảo Nghiêm (1692).
Chân cột chạm dàn nhạc Thời Lý (thế kỷ XI) Khối bệ đá chạm hoa sen và đôi rồng chầu không vảy; hai bên vòng sáng chạm 10 nhạc công biểu diễn nhạc cụ cổ truyền.
Lễ hội Khán hoa mẫu đơn Truyền thống (mùng 4 - 5 tháng Giêng) Lễ hội gắn với truyền thuyết Từ Thức gặp tiên Giáng Hương; gồm nghi thức dâng hương, cầu quốc thái dân an và hội thi sinh vật cảnh, trò chơi dân gian.

Từ các dữ kiện trên, chương 1 khẳng định chùa Phật Tích hội tụ ba giá trị nền tảng: giá trị giáo dục đạo đức và truyền thống Nho - Phật; giá trị nghệ thuật điêu khắc đá thời Lý đỉnh cao; giá trị lịch sử gắn với các nhân vật và sự kiện trọng đại của dân tộc.

CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH

Chương 2 tập trung phân tích kết quả triển khai công tác bảo tồn di sản tại chùa Phật Tích trên hai phương diện thành tựu và hạn chế, đi kèm nguyên nhân cụ thể:

Thực trạng công tác bảo tồn được tổng hợp và đối chiếu qua bảng sau:

Phương diện công tác Thành tựu và kết quả đạt được Hạn chế và tồn tại ghi nhận
Quản lý nhà nước và phân cấp Ban hành quy chế phân cấp rõ ràng giữa Sở VH-TT&DL Bắc Ninh, UBND huyện Tiên Du và xã Phật Tích; phối hợp chặt chẽ với Viện Khoa học, Viện Văn hóa Dân gian, Viện Nghiên cứu Hán Nôm để lập hồ sơ khoa học. Đội ngũ cán bộ làm văn hóa cấp xã thiếu đào tạo chuyên môn sâu; thành viên ban quản lý cơ sở chủ yếu hoạt động dựa vào lòng nhiệt tình, chưa đáp ứng chuẩn nghiệp vụ.
Trùng tu, tu bổ di tích Sử dụng ngân sách tỉnh và vốn xã hội hóa phục dựng 22 gian chùa, gia cố hệ thống 3 bậc thềm đá, bảo tồn vườn 32 tháp và hoàn thiện hạ tầng giao thông tiếp cận. Xuất hiện tình trạng người dân tự ý cung tiến đồ thờ cúng, sắp đặt hiện vật tùy tiện gây mất mỹ quan và sai lệch không gian di tích nguyên gốc.
An ninh trật tự và tín ngưỡng Huy động công an, dân quân tự vệ bảo đảm an toàn giao thông lễ hội; cơ bản kiểm soát tệ nạn bói toán, xóc thẻ, lên đồng, cờ bạc trá hình; không xảy ra ùn tắc lớn. Nếp sống văn minh lễ hội chưa triệt để: còn tình trạng đốt nhiều vàng mã, rải tiền và cài tiền lẻ lên tượng thờ; hiện tượng ăn xin, chèo kéo bán hàng và viết sớ dạo còn diễn ra lẻ tẻ.
Khai thác dịch vụ và du lịch Quảng bá hình ảnh qua tờ rơi, pano; tổ chức dịch vụ trông giữ xe, kinh doanh đồ lưu niệm có trật tự, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương. Quy hoạch bãi đỗ xe, hàng quán và khu vệ sinh công cộng chưa thực sự khoa học; tâm lý ưu tiên khai thác kinh tế du lịch hơn bảo tồn bền vững tiềm ẩn nguy cơ hủy hoại di tích.

Nguyên nhân của thành tựu bắt nguồn từ sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh thông qua việc triển khai Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII và Chương trình số 17-CTr/TU, cùng sự đồng thuận tham gia bảo vệ di sản của cộng đồng nhân dân địa phương. Ngược lại, nguyên nhân của hạn chế xuất phát từ sự thiếu hụt kinh phí, thiếu các đề tài nghiên cứu ứng dụng chuyên sâu, nhận thức pháp luật di sản của một bộ phận người dân chưa đầy đủ, và hệ thống văn bản hướng dẫn quản lý lễ hội ở cơ sở còn thiếu tính đồng bộ.

CHƢƠNG 3 ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC BẢO TỒN DI SẢN VĂN HÓA CHÙA PHẬT TÍCH

Tại chương 3, tác giả xây dựng định hướng và nhóm giải pháp nâng cao chất lượng bảo tồn di sản:

  • Định hướng bảo tồn: Thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng về xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; quán triệt 10 nhiệm vụ văn hóa của Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII; kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn nguyên vẹn các di vật đá gốc thời Lý (bảo tồn tĩnh) với phát huy giá trị lễ hội Khán hoa mẫu đơn trong đời sống cộng đồng cư dân (bảo tồn động).
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến Luật Di sản văn hóa nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ và cộng đồng cư dân; vận động du khách bài trừ mê tín dị đoan, không cài tiền lên tượng và hạn chế đốt vàng mã.
    2. Nâng cao năng lực quản lý nhà nước: Kiện toàn Ban Quản lý di tích huyện Tiên Du và xã Phật Tích; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ văn hóa cơ sở.
    3. Hoàn thiện công tác quy hoạch không gian di tích: Tách bạch rõ khu vực tâm linh thờ tự với khu vực dịch vụ thương mại, sắp xếp bãi đỗ xe và khu bán hàng lưu niệm hợp lý, bảo đảm vệ sinh môi trường.
    4. Đẩy mạnh xã hội hóa và nghiên cứu khoa học: Huy động hợp pháp các nguồn lực tài chính từ nhân dân và doanh nghiệp cho hoạt động trùng tu; tiếp tục liên kết với các viện nghiên cứu chuyên ngành để khảo sát, sưu tầm và bảo quản khoa học hệ thống cổ vật thời Lý và vườn tháp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phân tích hệ thống dữ liệu thực tế về chùa Phật Tích với các kết quả cụ thể:

  • Thống kê toàn diện hệ thống hiện vật điêu khắc thời Lý có giá trị bảo vật quốc gia, gồm pho tượng A Di Đà bằng đá (cao 2,69 m cả bệ sen), 10 tượng thú tròn quỳ trên bệ sen trước tam bảo, dấu tích ao Rồng kích thước 7 m x 5 m chạm khắc hình rồng và sóng nước thời Lý, bệ chân tảng chạm 10 nhạc công, và pho tượng nhục thân Thiền sư Chuyết Chuyết phục hồi năm 1993 (cao 67,3 cm, nặng 10 kg).
  • Đánh giá xác thực hiện trạng quản lý di tích: Khẳng định sự chuyển biến tích cực trong việc phục dựng khuôn viên chùa lên 22 gian công trình, bảo đảm an ninh trật tự lễ hội Khán hoa mẫu đơn; đồng thời chỉ rõ những sai lệch do tiếp nhận đồ cung tiến tùy tiện và thương mại hóa dịch vụ lễ hội.
  • Về đóng góp so với các nghiên cứu trước: Trong phần tổng quan lịch sử nghiên cứu, tác giả chỉ rõ các ấn phẩm trước đó (của Trần Đình Luyện, Lê Viết Nga hay Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh) chủ yếu dừng lại ở mức độ khảo cứu lịch sử, mô tả kiến trúc hoặc thống kê di tích chung toàn tỉnh. Đề tài của Nguyễn Thị Hoa là công trình khoa học đầu tiên tiếp cận riêng biệt và trực diện công tác bảo tồn di sản văn hóa chùa Phật Tích dưới góc độ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học kết hợp khảo sát thực tiễn quản lý địa phương sau hơn 20 năm tái lập tỉnh Bắc Ninh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số điểm hạn chế do tác giả tự nhận định và giới hạn phạm vi nghiên cứu:

  • Tác giả lần đầu thực hiện nghiên cứu khoa học nên các dữ liệu điều tra xã hội học chủ yếu mang tính ghi nhận mô tả thực trạng, chưa xây dựng được các bộ chỉ số định lượng đánh giá mức độ hài lòng của du khách hoặc tác động môi trường du lịch.
  • Phạm vi nghiên cứu mới chỉ tập trung phân tích độc lập chùa Phật Tích tại huyện Tiên Du trong mốc thời gian từ năm 1997 đến 2019, chưa mở rộng so sánh chuyên sâu với công tác bảo tồn tại các di tích Phật giáo thời Lý lân cận như chùa Dâu, chùa Dạm hay chùa Tiêu.

Hướng nghiên cứu tiếp theo mà đề tài gợi mở bao gồm: Tiếp tục nghiên cứu tích hợp công tác bảo tồn chùa Phật Tích trong quy hoạch chuỗi du lịch văn hóa tâm linh liên vùng Bắc Ninh - Hà Nội; xây dựng khung tiêu chí đánh giá sức tải môi trường và xã hội hóa di tích bền vững.

Giá trị tham khảo

Công trình là nguồn tài liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên các ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Lịch sử và Sư phạm Giáo dục Chính trị tham khảo khi làm khóa luận, tiểu luận về chính sách văn hóa và bảo tồn di tích.
  • Cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện, xã, thành viên Ban Quản lý di tích chùa Phật Tích và các di tích tương tự tại tỉnh Bắc Ninh sử dụng làm tư liệu đối chiếu trong việc xây dựng phương án quản lý lễ hội, kiểm soát hàng quán và bảo vệ cổ vật.
  • Phần đáng tham khảo nhất là tiểu mục khảo cứu hệ thống cổ vật thời Lý tại chương 1 và phần phân tích thực trạng các sai phạm nảy sinh trong không gian lễ hội tâm linh tại chương 2.

Câu hỏi thường gặp

Chùa Phật Tích được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo văn bản nào và vào thời gian nào?
Chùa Phật Tích được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2408/QĐ-TTg xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt vào ngày 31 tháng 12 năm 2014, do Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam ký ban hành. Trước đó, công trình đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia theo Quyết định số 313/VH-VP ngày 28 tháng 4 năm 1962.

Pho tượng Phật A Di Đà bằng đá thời Lý tại chùa có kích thước và cấu trúc thế nào?
Pho tượng gồm hai phần chế tác từ đá nguyên khối: phần mình tượng cao 1,87 m tạc trong tư thế ngồi thiền tọa trên tòa sen; phần bệ đá chạm khắc tinh xảo. Tổng chiều cao toàn bộ công trình tượng đạt khoảng 2,69 m. Chân tảng đá đỡ các cột thượng điện có hình hộp vuông, mỗi cạnh rộng 0,83 m.

Pho tượng táng "Nhục thân Bồ tát" tại chùa là chân dung của ai và có thông số ra sao?
Đó là pho tượng táng kết tinh nhục thân của Thiền sư Chuyết Chuyết (tên Lý Thiên Tộ, pháp danh Hải Trừng, sinh năm 1590 tại Phúc Kiến, Trung Quốc, viên tịch năm 1644 thọ 55 tuổi tại chùa Phật Tích). Pho tượng được đắp bằng sơn ta, vải và mạt cưa bọc quanh khung xương thiền sư, được phục hồi từ ngày 12 tháng 01 đến ngày 01 tháng 05 năm 1993 với chiều cao 67,3 cm và nặng 10 kg.

Lễ hội Khán hoa mẫu đơn diễn ra vào thời gian nào và gắn với sự tích gì?
Lễ hội diễn ra từ ngày mùng 4 đến mùng 5 tháng Giêng âm lịch hàng năm (chính hội là mùng 4). Lễ hội gắn liền với truyền thuyết dân gian Từ Thức gặp tiên nữ Giáng Hương vào dịp ngắm hoa mẫu đơn đầu xuân tại khuôn viên chùa Phật Tích.

Hạn chế lớn nhất trong công tác bảo tồn di sản tại chùa Phật Tích được khóa luận chỉ ra là gì?
Hạn chế nổi cộm là đội ngũ cán bộ văn hóa cấp xã thiếu chuyên môn nghiệp vụ sâu; sự mất cân đối giữa mục tiêu khai thác du lịch với bảo vệ yếu tố nguyên gốc; tình trạng người dân tự ý cung tiến đồ thờ cúng sai quy cách; và các hành vi thiếu văn minh trong lễ hội như rải tiền lẻ, đốt nhiều vàng mã, buôn bán sớ, xem bói và quy hoạch hàng quán chưa hợp lý.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hoa đã khái quát hóa một cách có hệ thống cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối của Đảng về bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời phác họa bức tranh toàn diện về các giá trị lịch sử, kiến trúc điêu khắc đá thời Lý tại chùa Phật Tích. Thông qua việc phân tích thực trạng công tác quản lý và tổ chức lễ hội từ năm 1997 đến 2019, tác giả đã chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến sự xuống cấp của di tích và nguy cơ thương mại hóa dịch vụ tâm linh. Các định hướng và giải pháp được đề xuất trong công trình bám sát điều kiện thực tiễn của huyện Tiên Du, cung cấp tài liệu tham khảo thiết thực cho công tác quản lý và bảo tồn di sản văn hóa truyền thống tại tỉnh Bắc Ninh.