Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ sinh thái rừng nhiệt đới phong phú, đóng vai trò sinh cảnh sống quan trọng của 25 loài và phân loài linh trưởng, đứng thứ 2 khu vực Đông Nam Á về tính đa dạng loài. Tuy nhiên, áp lực suy thoái sinh cảnh và săn bắt trái phép đã đẩy 24 loài vào Danh lục Đỏ IUCN và 5 loài thuộc nhóm 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất thế giới. Dù hệ thống 164 khu rừng đặc dụng với tổng diện tích hơn 2,2 triệu ha đã được thiết lập, công tác bảo tồn giống Khỉ (Macaca spp.) thuộc Nhóm IIB theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP vẫn đối mặt với khoảng trống lớn về dữ liệu sinh thái và cấu trúc quần thể.

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên có diện tích quy hoạch 23.815,5 ha (trong đó phân khu bảo vệ nghiêm ngặt là 10.455,5 ha), tiếp giáp với Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt (diện tích khoảng 90.000 ha), hình thành một hành lang sinh thái rộng lớn. Trước nghiên cứu này, các khảo sát tại Xuân Liên chỉ dừng lại ở việc thống kê danh mục 7 loài linh trưởng nói chung mà chưa có đánh giá định lượng chuyên biệt cho giống Macaca.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là xác định thành phần loài, quy mô quần thể, đặc tính phân bố sinh cảnh và các nhân tố đe dọa đối với giống Khỉ tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên. Phạm vi nghiên cứu thực địa bao phủ toàn bộ 23.815,5 ha rừng và 11 thôn bản vùng đệm thuộc 5 xã thuộc huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa, triển khai từ tháng 11/2016 đến tháng 4/2017. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập cơ sở dữ liệu định lượng về 25 đàn khỉ với khoảng 175 đến 360 cá thể hoang dã, đóng góp trực tiếp vào quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh và quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng thuyết Thích nghi Hình thái và Phân hóa Ổ sinh thái Dinh dưỡng để phân biệt phân họ Khỉ (Cercopithecinae) sở hữu túi má tích trữ thức ăn với phân họ Voọc (Colobinae) có dạ dày đa ngăn tiêu hóa cellulose. Đồng thời, lý thuyết Sinh thái học Cảnh quan và Phân mảnh Sinh cảnh được sử dụng để phân tích tác động của các dạng thảm thực vật lên tập tính cư trú của 22 loài thuộc giống Macaca trên toàn cầu.

Mô hình nghiên cứu kế thừa khung đánh giá mối đe dọa sinh thái của Margoluis và Salafsky (2001), định lượng áp lực bảo tồn dựa trên 3 tiêu chí cốt lõi: diện tích vùng ảnh hưởng, cường độ tác động và tính cấp thiết theo thời gian. Các khái niệm chính bao gồm: Kích thước quần thể (tổng số cá thể quan sát trực tiếp và gián tiếp), Tần suất bắt gặp (số đàn ghi nhận trên mỗi kilômét tuyến khảo sát), Sinh cảnh ưu tiên (dạng thảm thực vật có tần suất xuất hiện tập trung) và Phân khu chức năng rừng đặc dụng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua thiết kế 20 tuyến điều tra thực địa với tổng chiều dài 88,24 km (mỗi tuyến 3-6 km, cự ly cách nhau 500 m), khảo sát tập trung vào khung giờ hoạt động cao điểm từ 6:00 đến 11:00 sáng. Dữ liệu tuyến được bổ sung bởi 10 máy bẫy ảnh cảm ứng nhiệt StealthCam bố trí tại các vị trí hiểm trở và phỏng vấn bán cấu trúc 5-10 người dân/thôn tại 11 thôn bản thuộc 5 xã vùng đệm.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo dạng sinh cảnh kết hợp điều tra tuyến ngẫu nhiên có hệ thống được lựa chọn nhằm tối ưu hóa khả năng phát hiện động vật linh trưởng có độ nhạy cảm cao, sống rải rác trên địa hình phân cắt mạnh từ 150 m đến 1.600 m. Dữ liệu không gian được chuẩn hóa trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000 theo hệ tọa độ UTM Zone 48 WGS84, phân tích thông qua phần mềm MapInfo và Excel. Timeline nghiên cứu thực địa kéo dài 6 tháng liên tục, kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu giám sát lâm nghiệp giai đoạn 2012-2016 của Hạt Kiểm lâm Xuân Liên.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận sự hiện diện thực tế của 3 loài Khỉ thuộc giống Macaca tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên:

  • Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides): Tỷ lệ bắt gặp cao nhất, xuất hiện trên 16/20 tuyến điều tra (chiếm 80%) với 56 lần quan sát. Ước tính có khoảng 10 đàn sinh sống, quy mô quần thể dao động từ 75 đến 154 cá thể, kích thước trung bình 8-15 cá thể/đàn.
  • Khỉ vàng (Macaca mulatta): Xuất hiện trên 10/20 tuyến điều tra (chiếm 50%) với 39 lần quan sát. Ước tính có 9 đàn với số lượng từ 69 đến 138 cá thể, trung bình mỗi đàn có 10-16 cá thể.
  • Khỉ mốc (Macaca assamensis): Xuất hiện trên 9/20 tuyến điều tra (chiếm 45%) với 24 lần quan sát. Ước tính có 6 đàn với số lượng từ 31 đến 68 cá thể, trung bình mỗi đàn có 7-10 cá thể.
  • Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina): Dù chưa ghi nhận trực tiếp trên tuyến điều tra thực địa, phỏng vấn cộng đồng địa phương đã xác nhận 11 lần chạm trán các đàn khỉ đuôi lợn (7-18 cá thể/đàn) tại khu vực xã Bát Mọt tiếp giáp Nghệ An.

Về tần suất bắt gặp trung bình, Khỉ vàng đạt 0,12 đàn/km, cao gấp 1,5 lần so với Khỉ mốc và Khỉ mặt đỏ (đều đạt 0,08 đàn/km).

Về mặt sinh cảnh, trong 8 dạng sinh cảnh chính của khu bảo tồn, Khỉ vàng phân bố chủ yếu ở rừng thường xanh á nhiệt đới trên 800 m (SC2: chiếm 61%) và rừng thường xanh trên núi đá vôi (SC1: chiếm 26%). Khỉ mốc phân bố trải rộng trên 6/8 dạng sinh cảnh nhưng ưu tiên rừng thường xanh nhiệt đới dưới 800 m (SC3: chiếm 33%) và rừng núi đá vôi (SC1: chiếm 21%). Cả 3 loài đều vắng bóng tại sinh cảnh rừng tre nứa thuần loại (SC7: 3.276 ha) và trảng cỏ cây bụi (SC8: 942 ha).

Thảo luận kết quả

Kích thước đàn ghi nhận tại Xuân Liên (trung bình 7-16 cá thể) tương đồng với một số quan sát thực địa tại Việt Nam nhưng thấp hơn đáng kể so với các báo cáo quốc tế, nơi các đàn Macaca có thể đạt từ 40 đến 60 cá thể hoặc lên tới 90 cá thể. Sự thu hẹp quy mô đàn phản ánh tập tính thích nghi phân tán thành các nhóm nhỏ nhằm đối phó với áp lực săn bắn kéo dài và sự suy giảm nguồn thức ăn cục bộ. Tỷ lệ bắt gặp Khỉ mặt đỏ vượt trội (80%) bắt nguồn từ tập tính kiếm ăn ồn ào dưới mặt đất và để lại nhiều dấu vết thực vật bị bẻ gãy tại các tiểu khu 485, 489, 497.

Các phát hiện phân bố sinh cảnh có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ cột thể hiện tỷ lệ phần trăm bắt gặp trên 8 sinh cảnh (SC1 đến SC8) và bản đồ nhiệt không gian định vị tọa độ các đàn tại các tiểu khu trọng điểm.

Áp lực bảo tồn bắt nguồn sâu xa từ bối cảnh kinh tế - xã hội vùng đệm. Thống kê tại 12 thôn thuộc 5 xã cho thấy dân số đạt 7.981 người, trong đó dân tộc Thái chiếm 82,33% và 98% lao động phụ thuộc hoàn toàn vào nông lâm nghiệp. Tỷ lệ hộ nghèo tại 4/5 xã vượt mức 50% (đặc biệt xã Yên Nhân đạt 63,37%). Sự phụ thuộc sinh kế dẫn đến các hoạt động đặt bẫy thú, khai thác chọn gỗ quý Pơ mu (Fokienia hodginsii) và lâm sản ngoài gỗ, đe dọa trực tiếp đến cấu trúc 767 ha rừng núi đá vôi vốn vô cùng nhạy cảm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững các quần thể Khỉ thuộc giống Macaca, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Tăng cường tuần tra, kiểm soát nghiêm ngặt các tuyến trọng điểm: Ban Quản lý Khu bảo tồn cần thành lập các đội tuần tra liên ngành, tập trung kiểm soát 20 tuyến điều tra cố định và 5 tiểu khu có mật độ phân bố cao (485, 489, 497, 498, 520). Mục tiêu là tháo dỡ 100% bẫy thú trái phép và giảm ít nhất 70% các vụ vi phạm pháp luật lâm nghiệp trong giai đoạn 2018-2020.
  • Bảo vệ tuyệt đối các sinh cảnh ưu tiên cốt lõi: Thiết lập quy chế giám sát đặc biệt đối với 767 ha rừng thường xanh trên núi đá vôi (SC1) và 2.259 ha rừng thường xanh á nhiệt đới (SC2). Nghiêm cấm mọi hình thức tác động cơ học, thu hái lâm sản hoặc xâm lấn nương rẫy, bảo toàn độ tàn che rừng đạt từ 0,7 đến 0,9 và tổ chức đánh giá diễn thế định kỳ 6 tháng/lần do Hạt Kiểm lâm Xuân Liên chủ trì.
  • Phát triển sinh kế thay thế cho cộng đồng 11 thôn vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Thường Xuân phối hợp cùng Ban Quản lý Khu bảo tồn triển khai các mô hình nông lâm kết hợp, chi trả dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái cộng đồng tại các xã Bát Mọt, Yên Nhân. Mục tiêu nâng thu nhập bình quân của người dân lên 25-30% vào năm 2022, giảm tỷ lệ lao động phụ thuộc trực tiếp vào rừng từ 98% xuống dưới 70%.
  • Thiết lập chương trình giám sát đa dạng sinh học dài hạn: Đầu tư mở rộng mạng lưới 30-50 bẫy ảnh nhiệt tại các khu vực giáp ranh Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt và biên giới Lào nhằm xác minh sự phân bố của loài Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina). Chương trình do các chuyên gia sinh thái và lực lượng kiểm lâm phối hợp thực hiện liên tục đến năm 2025 nhằm duy trì tốc độ tăng trưởng quần thể linh trưởng tối thiểu 5%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Quản lý các Khu bảo tồn thiên nhiên và Vườn quốc gia: Ứng dụng quy trình điều tra 88,24 km tuyến và ma trận phân tích mối đe dọa của Margoluis & Salafsky để xây dựng phương án quản lý rừng bền vững tại 164 khu rừng đặc dụng trên toàn quốc.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Lâm học, Sinh thái học: Khai thác nguồn tư liệu thực địa chi tiết về tập tính, cấu trúc đàn của 25 nhóm khỉ và đặc điểm thực vật học của 8 kiểu sinh cảnh rừng miền Tây Thanh Hóa phục vụ nghiên cứu so sánh linh trưởng học Đông Dương.
  • Chi cục Kiểm lâm và cơ quan hoạch định chính sách bảo tồn: Sử dụng các bằng chứng thực nghiệm để đánh giá hiệu quả thực thi Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Nghị định 160/2013/NĐ-CP, từ đó hoàn thiện danh mục loài nguy cấp cần ưu tiên bảo vệ ở cấp địa phương.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ tài trợ bảo tồn thiên nhiên: Sử dụng số liệu kinh tế - xã hội tại 11 thôn bản nghèo (với tỷ lệ nghèo trên 50%) làm cơ sở xây dựng các dự án tài trợ phát triển sinh kế cộng đồng gắn liền với bảo tồn động vật hoang dã.

Câu hỏi thường gặp

Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên ghi nhận chính xác bao nhiêu loài thuộc giống Macaca? Nghiên cứu đã xác nhận sự hiện diện thực địa của 3 loài gồm Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides), Khỉ vàng (Macaca mulatta) và Khỉ mốc (Macaca assamensis). Ngoài ra, thông tin phỏng vấn ghi nhận 11 lần xuất hiện của Khỉ đuôi lợn (Macaca leonina), nâng tổng số loài tiềm năng lên 4 loài.

Loài khỉ nào có tần suất bắt gặp cao nhất trên các tuyến điều tra? Khỉ vàng sở hữu tần suất bắt gặp cao nhất đạt 0,12 đàn/km với 39 lần quan sát trên 10 tuyến. Mặc dù Khỉ mặt đỏ xuất hiện ở 16/20 tuyến (chiếm 80%), tần suất bắt gặp theo chiều dài tuyến chỉ đạt 0,08 đàn/km, tương đương với Khỉ mốc.

Sinh cảnh rừng nào đóng vai trò quan trọng nhất đối với các loài khỉ tại Xuân Liên? Rừng thường xanh trên núi đá vôi (SC1: 767 ha) và rừng thường xanh á nhiệt đới trên 800 m (SC2: 2.259 ha) là hai sinh cảnh tối quan trọng. Đây là nơi tập trung hơn 87% số lần bắt gặp Khỉ vàng và là nơi trú ẩn an toàn của các loài thú quý hiếm.

Tại sao Khỉ đuôi lợn chưa được ghi nhận trực tiếp trên các tuyến khảo sát? Nguyên nhân chủ yếu do kích thước quần thể loài này trong khu vực còn rất thấp, địa bàn di chuyển hiểm trở giáp ranh Khu Bảo tồn Pù Hoạt và thời gian điều tra thực địa 6 tháng chưa đủ dài để bao phủ toàn bộ diện tích 23.815,5 ha.

Mối đe dọa sinh thái lớn nhất đối với các loài linh trưởng tại khu vực là gì? Áp lực lớn nhất là tình trạng bẫy bắt thú hoang dã và khai thác gỗ trái phép bắt nguồn từ tỷ lệ nghèo đói trên 50% tại 4/5 xã vùng đệm (Yên Nhân đạt 63,37%), kết hợp với sự phụ thuộc sinh kế của 98% lực lượng lao động vào tài nguyên rừng.

Kết luận

  • Luận văn đã thiết lập bộ cơ sở dữ liệu định lượng về 3 loài Khỉ (M. arctoides, M. mulatta, M. assamensis) với quy mô 25 đàn, tổng số 175 đến 360 cá thể trên diện tích 23.815,5 ha của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xuân Liên.
  • Xác định sinh cảnh rừng núi đá vôi (SC1: 767 ha) và rừng thường xanh á nhiệt đới (SC2: 2.259 ha) là hai vùng cư trú trọng yếu cần ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt.
  • Làm rõ mối tương quan giữa áp lực suy giảm quần thể linh trưởng với thực trạng đói nghèo (tỷ lệ nghèo 63,37% tại xã Yên Nhân) và sự phụ thuộc rừng của 11 thôn bản vùng đệm.
  • Hoàn thiện khung phương pháp luận điều tra kết hợp 88,24 km tuyến, 10 máy bẫy ảnh nhiệt và mô hình đánh giá mối đe dọa sinh thái Margoluis & Salafsky.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý rừng đồng bộ gắn liền với lộ trình phát triển sinh kế cộng đồng bền vững giai đoạn 2018-2025.

Các nhà quản lý lâm nghiệp, viện nghiên cứu và tổ chức bảo tồn cần nhanh chóng khai thác dữ liệu từ công trình này để triển khai các dự án thực địa, góp phần bảo vệ bền vững nguồn gen linh trưởng quý hiếm của Việt Nam.