Chương 1: Tổng quan vai trò của ĐTĐM đối với lĩnh vực kinh tế xã hội, câu hỏi và hướng nghiên cứu của đề tài về vấn đề lo ngại lớn nhất của người dùng khi tiếp cận ĐTĐM, nêu lên ý nghĩa và kết quả mong muốn của đề tài. - Chương 2: Các bước tiến hành để nghiên cứu đề tài, xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu phù hợp và bố cục của đề tài. 10 - Chương 3: Cơ sở lý thuyết liên quan của đề tài nghiên cứu, các khái niệm, định nghĩa và thông tin được rút kết từ bài báo khoa học, sách và tạp chí chuyên ngành, các bài nghiên cứu và các phát biểu của các chuyên gia trong lĩnh vực liên quan đề tài. - Chương 4: Tổng hợp và phân tích các yếu tố ảnh hưởng an toàn thông tin cho ĐTĐM.
Khảo sát và tìm hiểu công nghệ của IBM như SmartCloud, giải pháp bảo mật cho ĐTĐM nhằm đề xuất mô hình ứng dụng chung về an toàn thông tin ĐTĐM cho doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp vừa và nhỏ. - Chương 5: Rút ra những kết luận dựa trên những kết quả tìm hiểu được, những lợi ích đạt được và các hạn chế còn tồn tại trong đề tài. Cuối cùng là đưa ra hướng phát triển tiếp theo. 11 Chương 3 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Các chiến lược quảng bá sản phẩm của các nhà cung cấp ĐTĐM về tính hiệu quả, lợi ích về mặt kinh tế cùng với các tiêu chuẩn, kỹ thuật ứng dụng đa dạng đã tạo ra nhiều khái niệm khác nhau về điện toán đám mây, điều này gây cho người dùng và doanh nghiệp cảm thấy bối rối và mơ hồ dự định sử dụng ĐTĐM trong hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, ý tưởng chung của ĐTĐM là đưa tất cả các tài nguyên tính toán như hạ tầng, dữ liệu, ứng dụng, bảng tính, …. lên môi trường Internet – nơi hoạt động của các “đám mây” – nhằm đơn giản thao tác tính toán, khai thác hiệu suất tối đa về công nghệ thông tin cho doanh nghiệp. Vậy làm thế nào để người dùng có thể nắm bắt rõ “điện toán đám mây” là gì và hướng tiếp cận nào là phù hợp với từng cá nhân cũng như từng doanh nghiệp? Chương này sẽ lần lượt điểm qua các khái niệm cơ bản, định nghĩa, sự phát triển và các kỹ thuật của ĐTĐM. ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY LÀ GÌ? 3.
Định nghĩa điện toán đám mây Điện toán đám mây là tên gọi của một loại hình hệ thống máy tính sử dụng các công nghệ máy tính và nền tảng Internet, còn được gọi là điện toán máy chủ ảo. Có thể hình dung đây là mô hình mà các nhà cung cấp xây dựng hạ tầng thiết bị và công nghệ nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng của khách hàng thông qua mạng Internet, các khách hàng không cần phải quan tâm đến việc đầu tư trang thiết bị cũng như mức độ hiểu biết về công nghệ mà vẫn có thể sử dụng truy cập các dịch vụ cần thiết từ các nhà cung cấp điện toán đám mây. Theo IEEE: “Nó là hình mẫu trong đó thông tin được lưu trữ thường trực tại các máy chủ thông qua Internet và chỉ được lưu trữ tạm thời trên các máy khách như các phương tiện cá nhân khác…” Điện toán đám mây có xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu dịch vụ của người dùng dựa trên Internet, có thể bị lẫn lộn với điện toán lưới (grid computing) và điện toán tiện ích (utility computing) hoặc phần mềm dịch vụ (SaaS). Trên thực tế thì điện 12 toán đám mây được xem như bước phát triển tiếp theo của các công nghệ trên [2], một số tính năng trong điện toán đám mây kết hợp các kiến trúc hạ tầng và thiết kế dịch vụ của điện toán lưới – nhu cầu, đồng thời cũng có sự kết hợp của các trung tâm dữ liệu qua các dịch vụ phân phối đáng tin cậy có thể truy cập từ bất cứ đâu trên thế giới cùng với sự góp phần của các tiêu chuẩn mở và các phần mềm mã nguồn mở.
Một cách đơn giản hơn điện toán đám mây có thể hiểu là: các nguồn tài nguyên tính toán như phần mềm, dữ liệu, dịch vụ. sẽ nằm tại các máy chủ ảo (đám mây) trên Internet cho phép người dùng có thể truy cập ứng dụng mọi nơi, mọi lúc và giúp các nhà phát triển xây dựng ứng dụng dễ dàng với dịch vụ web mà ko cần quan tâm đến hạ tầng hoạt động bên dưới.[2] Với việc áp dụng điện toán đám mây, doanh nghiệp không phải mua và duy trì hàng trăm, thậm chí hàng nghìn máy tính cũng như phần mềm, doanh nghiệp chỉ cần tập trung sản xuất và hoạt động kinh doanh bởi đã có người khác lo cơ sở hạ tầng và công nghệ thay họ. Trước đây, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về điện toán đám mây: “Mô hình cung cấp, sử dụng và chuyển tiếp các dịch vụ công nghệ thông tin trên môi trường Internet với khả năng ảo hóa tài nguyên, khả năng lưu trữ linh hoạt.” [7] “Mô hình điện toán phân tán mang tính kinh tế với quy mô lớn, trừu tượng hóa, ảo hóa, linh động với sức mạnh tính toán, lưu trữ, nền tảng và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người dùng từ xa thông qua Internet” [3] Tuy nhiên, bài luận văn này sử dụng định nghĩa của Viện Tiêu Chuẩn và Công Nghệ Quốc Gia NIST (National Institute of Standards and Technology) thuộc Bộ Thương Mại Mỹ xuất hiện vào khoảng năm 2009 được xem là định nghĩa chuẩn hóa được cộng đồng ĐTĐM sử dụng phổ biến nhất cho đến nay: “Cloud computing is a model for enabling ubiquitous, convenient, on-demand network access to a shared pool of configurable computing resources (e., 13 networks, servers, storage, applications, and services) that can be rapidly provisioned and released with minimal management effort or service provider interaction.” “Điện toán đám mây là mô hình điện toán cho phép truy cập qua mạng để lựa chọn và sử dụng tài nguyên tính toán (ví dụ: mạng, máy chủ, lưu trữ, ứng dụng và dịch vụ) theo nhu cầu một cách thuận tiện và nhanh chóng; đồng thời cho phép kết thúc sử dụng dịch vụ, giải phóng tài nguyên dễ dàng, giảm thiểu các giao tiếp với nhà cung cấp”. Đặc điểm và mô hình của điện toán đám mây Cùng với định nghĩa ĐTĐM, NIST cũng đưa ra 5 đặc điểm chính, 3 mô hình lớp dịch vụ và 4 loại hình triển khai của ĐTĐM: [4] Hình 3.
Định nghĩa và khái niệm về ĐTĐM. Các đặc điểm chính: - Dịch vụ theo nhu cầu: với đặc điểm này người dùng có thể tự cung cấp dịch vụ tự động theo nhu cầu sử dụng như thời gian hoạt động của máy chủ hay khả năng lưu trữ mạng mà không cần có sự hỗ trợ của nhà cung cấp. - Truy cập mạng trên diện rộng: đặc điểm này giúp người dùng có khả năng truy cập mạng ở bất kỳ thời gian nào và ở bất cứ đâu qua cách chuẩn giao tiếp với nhiều thiết bị di động khác nhau như điện thoại, máy tính bảng, laptop,…. - Chia sẻ tài nguyên: tài nguyên tính toán của nhà cung cấp như các thiết bị vật lý và tài nguyên ảo hóa được chia sẻ cho nhiều người dùng theo các yêu cầu riêng biệt của khách hàng.
- Tính nhanh chóng và linh hoạt: dịch vụ được cung cấp một cách nhanh chóng và linh hoạt tăng hoặc giảm theo nhu cầu sử dụng. Đây là một đặc điểm nổi trội của điện toán đám mây giúp người dùng đáp ứng tức thời, nhanh chóng các nhu cầu cung ứng không giới hạn. - Khả năng đo lường dịch vụ: hệ thống đám mây tự động kiểm soát và tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên bằng công cụ đo lường phù hợp các dịch vụ lưu trữ, xử lý, lưu lượng đường truyền mạng,… Tài nguyên sử dụng được theo dõi, kiểm soát và báo cáo tự động cho cả người dùng và nhà cung cấp. Mô hình lớp dịch vụ của ĐTĐM: - Hạ tầng như một dịch vụ (IaaS – Infrastructure as a Service): Khả năng cung cấp cho người dùng lượng tài nguyên tính toán, xử lý, lưu trữ, mạng,… theo dự tính để cài đặt và thực thi các phần mềm bao gồm hệ điều hành và các ứng dụng.
Ở mô hình này, hạ tầng được cung cấp như dịch vụ, người dùng không cần quản lý và kiểm soát các thiết bị hạ tầng vật lý, chỉ quan tâm đến hoạt động của các hệ 15 điều hành và các ứng dụng chạy trên nó cùng với một vài thiết bị có quyền chủ động kiểm soát mạng như tường lửa (firewall), v. - Nền tảng như một dịch vụ (PaaS – Platform as a Service): cung cấp khả năng cài đặt và thực thi các ứng dụng của người dùng hoặc tạo ra các dịch vụ nhờ các công cụ hỗ trợ trên hạ tầng của điện toán đám mây. Ở mô hình này, người dùng không phải quan tâm đến việc kiểm soát và quản lý hạ tầng phần cứng, mạng, thiết bị lưu trữ, hệ điều hành,… mà chỉ tập trung cài đặt, kiểm soát, cấu hình và phát triển phần mềm ứng dụng. - Phần mềm như một dịch vụ (SaaS – Software as a Service): Khả năng cung cấp các phần mềm ứng dụng cho người dùng hoạt động trên hạ tầng đám mây (phần cứng và phần mềm).
Người dùng có thể truy cập từ các thiết bị khác nhau thông qua trình duyệt web hoặc các phần mềm giao tiếp. Người dùng không cần quản lý hoặc kiểm soát bất cứ thành phần nào từ phần cứng hạ tầng, phần mềm nền tảng và cả những ứng dụng đang sử dụng, hạn chế người dùng cấu hình và tinh chỉnh ứng dụng. Phần mềm được cung cấp cho người sử dụng như một dịch vụ có sẵn. Các loại hình triển khai của ĐTĐM: - Đám mây riêng (private cloud): đây là hình thức điện toán đám mây do một tổ chức hoặc nhà cung cấp thiết lập cung cấp riêng cho nhu cầu của một tổ chức bao gồm nhiều khách hàng (đơn vị kinh doanh).
Nó được sở hữu, quản lý riêng và có thể cần trang bị các thiết bị hạ tầng tại tổ chức sử dụng. - Đám mây cộng đồng (community cloud): được thiết lập do nhu cầu trao đổi, giao tiếp của một số tổ chức trong lĩnh vực cùng quan tâm, cùng yêu cầu và các chính sách trong hoạt động của tổ chức. Tương tự đám mây riêng, đám mây cộng đồng được sở hữu và quản lý bởi một trong các tổ chức tham gia hoặc do bên thứ ba cung cấp thực hiện. Có thể cần phải trang bị hạ tầng cơ sở vật lý riêng biệt.
16 - Đám mây công cộng (public cloud): hạ tầng đám mây được sử dụng với mục đích chung.