Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài, bao gồm 03 nội dung: các khái niệm công cụ; bạo lực học đƣờng từ góc nhìn của lý thuyết xã hội hóa cá nhân và lý thuyết học hỏi xã hội; địa bàn nghiên cứu: Trƣờng THPT Hoàng Văn Thái, Tiền Hải, Thái Bình. Chương 2: Bạo lực học đƣờng qua trải nghiệm, đánh giá của học sinh, giáo viên và phụ huynh với 04 nội dung nhƣ sau: biểu hiện của bạo lực học đƣờng; nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đƣờng, giáo viên và phụ huynh; hậu quả của bạo lực học đƣờng; so sánh vai trò của giáo viên chủ nhiệm với vai trò của nhân viên công tác xã hội trong trƣờng học. 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Các khái niệm công cụ 1.
Khái niệm bạo lực Bạo lực là một khái niệm có nội hàm rộng, có mối liên hệ mật thiết với khái niệm bạo lực học đƣờng. Cho đến nay, ở Việt Nam và trên thế giới, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bạo lực. Có thể điểm qua một số khái niệm đáng lƣu ý sau. Theo Từ điển Tiếng Việt thì bạo lực đƣợc hiểu là: “Sức mạnh dùng để cƣỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ” [23, tr.
Khái niệm này dễ làm ngƣời ta liên tƣởng tới các hoạt động chính trị, nhƣng trên thực tế bạo lực đƣợc coi nhƣ một phƣơng thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung. Các mối quan hệ xã hội vốn rất đa dạng và phức tạp nên hành vi bạo lực cũng rất phong phú, đƣợc chia thành nhiều dạng khác nhau tùy theo từng góc độ nhìn nhận: bạo lực nhìn thấy và bạo lực không nhìn thấy đƣợc; bạo lực với phụ nữ, với trẻ em,… Từ điển xã hội học do Gunter Endruweit và Gisela Trommsdorf chủ biên viết: “Bạo lực là các hành vi có khuynh hƣớng hủy diệt nhƣ một phƣơng tiện tối hậu để thực thi quyền lực trong khuôn khổ quan hệ trên – dƣới, một chiều dựa trên ƣu thế bên ngoài, không có sự thừa nhận của ngƣời yếu thế” [30, tr. Còn Tổ chức Y tế thế giới (WHO) thì cho rằng: “Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất hay quyền lực đối với bản thân, ngƣời khác hoặc đối với một nhóm ngƣời hay một cộng đồng ngƣời mà gây ra hay làm gia tăng khả năng gây ra tổn thƣơng, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hƣởng đến sự phát triển hay gây ra sự mất mát” [41]. Tác giả Lê Thị Quý viết: “Bạo lực là việc đe dọa hay dùng sức mạnh thể chất, quyền lực đối với ngƣời khác hoặc một nhóm ngƣời, một cộng đồng gây ra hoặc làm tăng khả năng tổn thƣơng, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hƣởng đến sự phát triển, gây ra sự mất mát” [13, tr.
Nhƣ vậy, có thể hiểu bạo lực là việc làm gây tổn thƣơng cho ngƣời khác cả về thể xác và tinh thần. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung làm rõ cả hai hình thức bạo lực trên đƣợc phản ánh từ góc nhìn của học sinh, phụ huynh và giáo viên, trong đó bạo lực thể xác là những hành vi mà chủ thể gây ra bạo lực thƣờng sử dụng cơ bắp hoặc công cụ/hung khí gây nên sự đau đớn, tổn hại về thân thể đối với nạn nhân; bạo lực tinh thần là những lời nói, cử chỉ, thái độ mang tính chất lăng mạ, xúc phạm nhân phẩm, đe dọa với mục đích cảnh cáo, răn đe, phô trƣơng thanh thế hoặc làm tổn thƣơng tâm lý, khủng hoảng tinh thần cho đối phƣơng. 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm bạo lực học đường Trƣớc khi đƣa ra khái niệm bạo lực học đƣờng, tác giả muốn đề cập đến một khái niệm mang tính chất tƣơng đồng mà nhiều ngƣời trên thế giới và ở Việt Nam thƣờng sử dụng, đó là khái niệm bắt nạt học đƣờng.
Ở các nƣớc phƣơng Tây, bắt nạt học đƣờng cũng là một phần của bạo lực học đƣờng và thậm chí nhiều khi họ còn đồng nhất giữa bắt nạt với bạo lực học đƣờng. Tác giả Dan Olweus đã đƣa ra định nghĩa theo một cách chung nhất, “bắt nạt trong trƣờng học là những hành vi tiêu cực đƣợc lặp đi lặp lại, có ý định xấu của một hoặc nhiều học sinh nhằm trực tiếp chống lại một học sinh, ngƣời có khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân” [34, tr. Bộ Dịch vụ sức khỏe và Nhân sinh Hoa Kỳ (U. Department of Health & Human Services) cho rằng “bắt nạt là hành vi gây hấn, hành vi không mong muốn ở những đứa trẻ đang độ tuổi đến trƣờng có liên quan đến sự mất cân bằng về quyền lực hay nhận thức.
Các hành vi này đƣợc lặp đi lặp lại hoặc có khả năng lặp lại theo thời gian. Cả những ngƣời bắt nạt và bị bắt nạt đều bị ảnh hƣởng nghiêm trọng và lâu dài” [39]. Nhƣ vậy, có thể hiểu bắt nạt học đƣờng là hành vi thể hiện sức mạnh (về thể chất hoặc tinh thần) để đe dọa hoặc thực hiện các hành vi làm tổn thƣơng ngƣời khác, nhằm mục kiểm soát và duy trì quyền lực với ngƣời bị bắt nạt, hành vi bắt nạt không xảy ra một lần mà lặp đi lặp lại theo thời gian giữa những bạn trong độ tuổi đến trƣờng. Vậy khái niệm bạo lực học đƣờng đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Dƣới đây, tác giả sẽ đƣa ra một số quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu đi trƣớc.
Xét từ góc độ văn hóa, “bạo lực học đƣờng là một hiện tƣợng phản văn hóa, thể hiện lối ứng xử coi thƣờng luật pháp, không chấp hành nội quy trƣờng học, đi ngƣợc lại và làm hoen ố những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp trong xã hội, trong nhà trƣờng” [5, tr. Xét từ góc độ giáo dục, “bạo lực học đƣờng là sự phản ánh kết quả giáo dục không đƣợc nhƣ mong muốn, là thƣớc đo gián tiếp cho thấy hiệu quả và chất lƣợng ngƣợc chiều với mục tiêu giáo dục toàn diện, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống theo chuẩn mực văn hóa” [5, tr. Tác giả Oilchange cho rằng: “Bạo lực học đƣờng là bất kỳ hình thức hoạt động bạo lực hoặc các hoạt động bên trong các cơ sở trƣờng học. Nó bao gồm các hành vi bắt nạt, lạm dụng thân thể, lạm dụng bằng lời nói, ẩu đả, bắn,… Bắt nạt và lạm dụng vật chất là những hình thức phổ biến nhất của bạo lực có liên quan đến bạo lực học đƣờng.
Tuy nhiên, 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trƣờng hợp cực đoan nhƣ bắn và giết ngƣời cũng đã đƣợc liệt kê nhƣ là bạo lực học đƣờng” [33]. Hiện nay, các nhà nghiên cứu còn nhiều tranh luận và chƣa có sự thống nhất trong việc đƣa ra một định nghĩa, khái niệm cụ thể mang tính khoa học về bạo lực học đƣờng. Kế thừa những quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trƣớc, nghiên cứu này sử dụng quan niệm, bạo lực học đường là một thuật ngữ chỉ những hành vi bạo lực diễn ra trong môi trường học đường, là hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi mang tính miệt thị, đe dọa, khủng bố người khác, để lại thương tích trên cơ thể, thậm chí dẫn đến tử vong, đặc biệt là gây tổn thương đến tư tưởng, tình cảm, tạo cú sốc tinh thần cho những đối tượng trực tiếp tham gia vào quá trình giáo dục trong nhà trường, cũng như đối với những ai quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Bạo lực học đường không chỉ xảy ra giữa học sinh với học sinh mà còn xảy ra giữa học sinh với giáo viên hoặc cán bộ công nhân viên trong nhà trường, hoặc giữa cán bộ, giáo viên trong nhà trường với nhau.
Khái niệm công tác xã hội Công tác xã hội có vai trò, vị trí rất quan trọng và mang ý nghĩa to lớn trong giải quyết các vấn đề xã hội, nhằm đảm bảo công bằng và tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia. Chính vì vậy, với lịch sử phát triển hơn 100 năm tại các nƣớc Âu Mỹ và nhiều quốc gia khác trên thế giới, công tác xã hội đã đƣợc công nhận là một nghề quan trọng. Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về công tác xã hội, có thể điểm qua một số định nghĩa tiêu biểu sau: Theo Lê Văn Phú (2004) thì Hiệp hội quốc gia nhân viên xã hội Mỹ (NASW) cho rằng: “Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cƣờng hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đó” [21, tr. Tác giả còn liệt kê thêm khái niệm của Cơ sở thực hành công tác xã hội (Foundation of Social Work Practice): “công tác xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi ngƣời vƣợt qua khó khăn của họ và đạt đƣợc vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội.
Công tác xã hội đƣợc coi nhƣ là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã đƣợc chứng minh, nó cung cấp một lƣợng kiến thức có cơ sở thực tiễn cho công tác xã hội và xây dựng những kĩ năng chuyên môn hoá” [21, tr. Hiệp hội các nhân viên xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montréal, Canada (IFSW) cho rằng: “Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã 23 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con ngƣời, tăng năng lực và giải phóng cho ngƣời dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con ngƣời và hệ thống xã hội, công tác xã hội tƣơng tác vào những điểm giữa con ngƣời với môi trƣờng của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề” [32].
Nhƣ vậy, có thể hiểu công tác xã hội là một khoa học, một nghề thực hành, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng yếu thế nhằm nâng cao năng lực, tăng cƣờng hoặc khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo điều kiện thích hợp nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đó. Khái niệm nhân viên công tác xã hội Trong các tài liệu nƣớc ngoài, thuật ngữ này có tên chung là Social worker. Hiện nay, có rất nhiều thuật ngữ khác nhau đƣợc sử dụng nhƣ: nhân viên xã hội, cán sự xã hội, ngƣời trợ giúp, nhân viên công tác xã hội,.