CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO Hồ QUYỀN TÁC GIÃ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM PHÁI SINH 1. Khái quát chung về quyền tác giả 1. Khái niệm quyền tác giả Quyền tác giả là một bộ phận quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ. Quyền tác giả là loại quyền sở hữu trí tuệ ra đời sớm nhất.
Vào giừa thế kỷ XV, khi kỹ thuật in và máy in ra đời, nó đã tạo cơ hội cho ngành công nghiệp mới là in ấn và phát hành sách phát triển với việc xuất bản hàng loạt bản sao các đầu sách một cách nhanh chóng với chi phí thấp và tiết kiệm thời gian. Trong khi đó, nhu cầu học tập thông qua sách, báo cũng ngày một tăng cao đã góp phần đặt ra yêu cầu bảo hộ quyền tác giả và các tác phẩm của họ khỏi bị sao chép trái phép. Hơn nữa, nhu cầu được pháp luật bảo vệ không chỉ đặt ra với các tác giả và các tác phẩm mà còn là đòi hỏi của các nhà xuất bản sách nhằm tránh bị thua lỗ do phải cạnh tranh với sách báo in lậu [19, tr. Từ đó, các đạo luật về bản quyền đầu tiên tại các nước theo hệ thống thông luật ra đời.
Bắt nguồn từ phán quyết của Tòa án Anh quốc về đặc quyền in ấn, Nữ hoàng Anh Anne đã tạo ra bước ngoặt cơ bản ở việc trao quyền in ấn tác phẩm cho tác giả vào năm 1710. Bất cứ ai xâm phạm quyền tác giả bằng cách in lậu hay phát hành sách in lậu đều bị xử phạt. Tiền bồi thường sẽ trả cho người giữ quyền tác giả và chính quyền. Thời hạn độc quyền của tác giả là 14 năm kể từ khi cuốn sách đó được xuất bản lần đầu.
Trong vòng 14 năm đó, người này có toàn quyền nhượng lại quyền xuất bản cuốn sách cho người khác. Thời hạn bảo hộ này có thế kéo dài thêm 14 năm nữa nếu tác giả của cuốn sách còn sống, khi thời hạn bảo hộ đầu tiên đã hết. Quy định về quyền tác giả cùng quyền sở hữu công nghiệp tạo thành hai bộ phận chính của chế định quyền sở hữu trí tuệ và là một chế định pháp luật quan trọng quy định về các vấn đề thiết lập và bảo hộ quyền của những người sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ, các sản phẩm vô hình, phi vật thể của con người. Sản phẩm trí 6 tuệ của con người có thê được chia thành hai loại: Sản phâm phục vụ nhu câu tinh thần, giải trí (tác phẩm văn học, nghệ thuật, hội họa, sân khấu, điện ảnh.) và sản phẩm có tác dụng về mặt công nghiệp, thương mại (phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp.
Quyền tác giả được dùng để bảo vệ các sáng tạo tinh thần (các tác phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa học và nghệ thuật) không bị vi phạm bản quyền [21, tr. Theo tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (W1PO): “Quyền tác giả (coppyright) là một thuật ngữ pháp lý chỉ quyền của người sáng tác đối với các tác phẩm văn học và nghệ thuật của họ” [32]. Khi một người sáng tác và đầu tư để tạo ra một tác phẩm văn học, khoa học, nghệ thuật, thì người đó sẽ trở thành tác giả đồng thời là chủ sở hữu của tác phẩm đó và có quyền quyết định việc sử dụng nó, người đó có thể được gọi là “người sáng tạo”, “tác giả” hay “chủ sở hữu quyền”. Trong đa số các trường hợp, tác giả đồng thời là chủ sở hữu của tác phẩm.
Tuy nhiên, nếu tác phẩm được hình thành do tổ chức, cá nhân thuê, giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc được chuyển giao quyền, thừa kế quyền tác giả thì tổ chức, cá nhân này là chủ sở hữu quyền tác giả [23, Điều 36, 37, 38, 39, 40]. Việc phân biệt giữa tác giả và chú sở hữu quyền tác giả là quan trọng, vì chú sở hữu quyền tác giả mới chính là người có quyền định đoạt tác phẩm. Xét về khía cạnh kinh tế thì chủ sở hữu quyền tác giả đóng vai trò quan trọng hon tác giả, vì khi sử dụng hay trình diễn tác phẩm, các chủ thể khác phải xin phép hay trả thù lao cho chủ sở hữu quyền tác giả [17, tr. Ở mỗi quốc gia, pháp luật về quyền tác giả trao cho chủ thể quyền tác giả của tác phẩm một nhóm độc quyền đối với tác phẩm của họ trong một thời hạn nhất định, bao gồm các quyền kinh tế (quyền tài sản) và các quyền tinh thần (còn gọi là quyền nhân thân).
Các quyền tài sản cho phép tác giả kiểm soát việc sử dụng tác phẩm của mình theo nhiều cách khác nhau và nhận được tiền thù lao khi có người sử dụng tác phẩm của mình. Pháp luật về quyền tác giả cũng trao cho tác giả “quyền nhân thân” nhằm bảo vệ danh tiếng của tác giả và sự toàn vẹn của tác phẩm. Quyền nhân thân hay còn gọi là quyền tinh thần (moral rights) gồm những quyền: quyền đứng tên thật hay bút danh trên tác phẩm; quyền đặt tên; quyền nêu 7 tên thật hay bút danh khi tác phâm được công bô, sử dụng; quyên cho phép hay không cho phép người khác công bố, sử dụng tác phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn cùa tác phẩm. Các quyền tinh thần này của tác giả hầu hết được bảo hộ vô thời hạn và không thể chuyển giao chỉ trù’ quyền công bố tác phấm.
Quyền tài sản hay còn gọi là quyền kinh tế (economic rights) bao gồm: quyền sao chép; quyền dịch tác phẩm ra một ngôn ngữ khác; truyền đạt tác phẩm tới công chúng; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm. Đối với mỗi hình thức tác phẩm khác nhau thì có thời hạn bảo hộ khác nhau, tùy thuộc vào quy định của mồi quốc gia. Công ước BERNE cho phép tác giả được hưởng quyền tài sản suốt đời cộng thêm tối thiểu 50 năm sau đó. Tuy nhiên, các quốc gia tuân thủ Công ước Berne được phép nâng thời hạn hưởng quyền tác giả dài hơn.
Như vậy, hiếu một cách đơn giản quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo hoặc sở hữu, bao gồm các quyền nhân thân và quyền tài sản [23, Điều 4, 18]. Quyền này bảo vệ các quyền lợi cá nhân và lợi ích kinh tế của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả trong mối liên quan với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hừu. Ngoài ra, theo nghĩa rộng thì quyền tác giả là một chế định pháp luật, là tống thế các quy phạm pháp luật xác định và bảo hộ các quyền nhân thân, quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; quy định việc bảo vệ, khôi phục các quyền đó khi có hành vi xâm phạm. Như vậy, quyền tác giả không chỉ quy định các quyền năng tác giả, người sáng tạo tác phấm mà còn mở rộng ra các vấn đề khác như đối tượng quyền tác giả, giới hạn quyền tác giả, thừa kế quyền tác giả, hợp đồng sử dụng tác phẩm.
Quyền tác giả không cần phải đăng ký và thuộc về tác giả khi một tác phẩm được thế hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Quyền tác giả chỉ được công nhận khi tác phẩm này của tác giả trực tiếp sáng tạo ra và là tác phẩm có tính sáng tạo. Đặc điểm của quyền tác giả Quyền tác giả là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, nên cũng mang những đặc điểm chung của quyền sở hữu trí tuệ như tính vô hình của các đối tượng 8 bảo hộ, tính giới hạn vê thời gian bảo hộ và không gian bảo hộ. Bên cạnh đó, quyên tác giả cũng có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm: - Thứ nhất, đối tượng của quyền tác giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật: Đối tượng của quyền tác giả là các tác phẩm vàn học, nghệ thuật, khoa học.
Tác phẩm là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thề hiện dưới hình thức nhất định. Tác phẩm phải do tác giả trực tiếp thực hiện bằng lao động trí tuệ của mình mà không phải đi sao chép từ tác phẩm của người khác. Mọi cá nhân đều có quyền sáng tạo vàn học, nghệ thuật, khoa học và khi cá nhân tạo ra tác phấm trí tuệ, không phụ thuộc vào giá trị nội dung và nghệ thuật đều có quyền tác giả đối với tác phẩm. Pháp luật về quyền tác giả không bảo hộ hình thức thế hiện dưới dạng nào đó mà không phản ánh hay không chứa đựng nội dung nhất định.
Mặt khác, quyền tác giả cũng được bảo hộ theo nguyên tắc chung của luật dân sự. Những nội dung thể hiện trong tác phẩm đi ngược lại lợi ích dân tộc, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác, có nội dung trái pháp luật, đạo đức, xã hội sẽ không được bảo hộ. Bản thân sản phẩm của lao động trí tuệ mang tính tích lũy khá cao, nó không bị hao mòn, không cạn kiệt như khi sử dụng tài sản hữu hình. Tác phẩm sẽ được nhiều người biết đến nếu có nội dung phong phú và hình thức thể hiện sáng tạo được kết họp bởi giá trị nghệ thuật, khoa học và kinh nghiệm nghề nghiệp của tác giả.
Đây là đặc trưng dễ nhận biết nhất của quyền tác giả. - Thứ hai, quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức của ý tưởng sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo. Đối tượng bảo hộ quyền tác giả là các tác phẩm - còn tác phấm là sự hinh thành một ý tưởng dưới một hình thức nhất định. Quyền tác giả đối với tác phẩm chỉ được giới hạn trong phạm vi thể hiện cụ thể của tác phẩm mà không bao gồm ý tưởng của tác giả thể hiện trong tác phẩm bởi vì không một ai có thể biết được một vấn đề đang nằm trong suy nghĩ của người khác.
Những ý tưởng kể cả cách sắp xếp, trinh bày đã có trong suy nghĩ của tác giả nhưng chưa được thế hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định thì không có căn cứ để công nhận và bảo hộ những điều chưa được bộc lộ ra bên ngoài đó. Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo 9 hộ hình thức thê hiện của các ý tưởng sáng tạo mà không bảo hộ bản thân ý tưởng đó. Điều này có nghĩa là mặc dù ý tưởng của các tác giả là trùng hoặc tương tự với nhau nhưng được thể hiện dưới hình thức khác thì các tác giả đó đều được pháp luật bảo hộ quyền tác giả với tác phẩm do mình sáng tạo ra. Thứ ha, Quyền tác giả được bảo hộ tự động.