CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VÈ KIÉU DÁNG CÔNG NGHIỆP VÀ BẢO Hộ KIÉU DÁNG CÔNG NGHIỆP 1. Khái quát về kiểu dáng công nghiệp và bào hộ kiểu dáng công nghiệp 1. Khái niệm kiểu dáng công nghiệp Kiểu dáng công nghiệp là một trong các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp. Vì the, KDCN cũng có những đặc tính chung cùa tài sàn trí tuệ như: Tính sáng tạo, tính vô hình, tính dễ phổ biến và tính lan truyền.
Theo định nghĩa của Tổ chức SHTT thế giới (WIPO): "KDCN là các khía cạnh mang tính chat trang trí hay thám mỹ của sàn phàm. Kiên dáng cá thê hao hàm các khía cạnh ha chiểu, ví dụ như hình dạng hoặc bể ngoài cùa sán phẩm, hoặc các khía cạnh hai chiều như mau hoa văn, đường nét hoặc màu sac ”, Có thể thấy, KDCN theo WIPO được xác định trước hết ở tính chất trang trí hay thấm mỹ của sản phẩm đó. KDCN là biếu hiện bên ngoài của sán phẩm và biếu hiện đó có thề ớ không gian hai chiều hoặc ba chiều. Định nghĩa cùa WIPO mang tính • ỉ._ T&xxo Viện Đại foe MởHa NỘI mở, cho phép hiêu VC KDCN theo một nghĩa rât rộng.
Theo quy định cúa pháp luật Việt Nam, tại Khoán 13 Điều 4 Luật sửa đoi bố sung một số điều cùa luật SHTT 2005 có quy định: "Kiêu dáng công nghiệp là hình dáng hên ngoài cùa sán phẩm được thê hiện hăng hình khối, đường nét, màu sac hoặc sự kết hợp những yếu tố này”. Ví dụ như: hình dáng bên ngoài cùa chiếc ghế, chiếc ô tô, kiều dáng bộ ấm chén. KDCN chì đề cập đến khía cạnh thẩm mỹ hay hình dáng bên ngoài của sàn phâm chứ không thê hiện các đặc diêm kỹ thuật hoặc chức năng bên trong cùa sãn phẩm. KDCN là kết quá của hoạt động sáng tạo, đòi hói sự đau tư về vật chất và trí tuệ vì vậy được Nhà nước bão hộ dưới hình thức thừa nhận và báo vệ quyền SHTT.
Thông qua khái niệm trên, có thế thay KDCN có những đặc điếm sau: Thứ nhất, KDCN phải là biếu hiện bên ngoài của sản phấm chứ không phải là một sản phẩm, người tiêu dùng có the cảm nhận được bang các giác quan khác nhau, chù yếu là thị giác. Biểu hiện bên ngoài cùa sân phẩm tạo ra một ấn tượng về thị giác, có thế là màu sac, hình khối, đường nét hay sự kết hợp các yếu tố đó, đàm bào phân biệt được sự giống nhau hay khác biệt giữa các sàn phẩm. KDCN phái có khá năng ứng dụng để sãn xuất ra sàn phẩm bằng phương pháp công nghiệp hay Ihú công nghiệp. MỘI KDCN chi được bào hộ khi nó có thê được sử dụng trong công nghiệp hoặc những sàn phẩm được sán xuât với quy mô lớn.
Như vậy, chức năng cơ bản và quan trọng nhất của KDCN là chức năng thấm mỹ. KDCN cần phái có tính thẩm mỹ đế thu hút sự chú ý và làm hài lòng người tiêu dùng, người sừ dụng sán phẩm mang kiểu dáng đó. Tính thấm mỹ là một trong những tiêu chí cơ bán đế một KDCN được bão hộ, chính tính thấm mỹ mang lại giá trị kinh tế cho KDCN. KDCN có chức năng nâng cao tiện ích của sán pham.
Neu sàn phấm gây bất tiện cho người sừ dụng hoặc làm mất bản chất đặc trương ban đầu của sàn phấm thì sẽ không còn hữu dụng cho mục đích sứ dụng như ban đầu nó hướng tới. Do đó khi sáng tạo KDCN, không chi có khía cạnh thẩm mỹ được chú trọng mà ngay cà khá năng tiện lợi trong sử dụng sán phàm cũng phái được quan tâm hàng đầu. KDCN đóng vai trò đế phân biệt các sản phàm cùng loại vói nhau. Khi những săn phấm có cùng tính năng sử dụng thì dáng vè bên ngoài chính là cơ sở đê phân biệt những sàn phẩm đó với nhau, Ví 'dụ.
chi cần nhìn từ xa, thông qua kiều dáng bên ngoài cùa sàn phấm, người tiêu dùng có thế dễ dàng nhận ra và phân biệt những chiếc điện thoại khác nhau như điện thoại Nokia, Sam sung. mà không can nhìn nhãn hiệu cũa sãn phẩm đó. Phân loại kiểu dáng công nghiệp 1. Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng của sán phẩm Hình dáng được hiểu là “hình của một vật làm thành vẻ riêng bên ngoài cùa nó" và hình là “toàn the nói chung những đường nét giới hạn cùa một vật trong không gian làm phân biệt rõ vật đó với xung quanh".
Hình dáng có thê ở dạng phăng (hai chiều) hoặc hình không gian (ba chiều) cúa sán phẩm. Ví dụ: dáng vẻ cúa một chiếc di động mang đặc trưng bời hình thù (có thề là sự kết hợp cùa các thành phan như màn hình, phím bấm.) mà khi nhìn vào có the dễ dàng phân biệt với chiếc điện thọai của hãng khác. Đối với loại KDCN này, biểu hiện bên ngoài cùa sản phẩm chi là dáng vẻ của nó, chứ không chứa các họa tiết hay màu sắc nào cà. Kiểu dáng công nghiệp là sự kết hợp của hình dáng và họa tiết Với loại KDCN này, bên cạnh dáng vè cùa sán phấm thì vé bên ngoài cùa sàn phẩm còn được thế hiện bời các họa tiết.
Ví dụ như ngoài hình thú, dáng vè cúa chiếc điện thoại còn được trang trí bề ngoài bằng những hình vẽ trang trí bắt mắt gợi cám giác thích thú cho người dùng. Kiêu dáng công nghiệp là sự kết họp hỉnh dứng và màu sắc Màu sac ờ đây là màu của chính sán phấm có được do nguyên liệu được sứ dụng trong thực thế hoặc màu cùa thuốc nhuộm hoặc sơn phủ lên sản phẩm, sự kết hợp hình dáng và màu sắc tạo lên sự độc đáo cùa sàn phẩm. Kiểu dáng là sự kết hợp giữa hình dáng, họa tiết và màu sắc Khác với các loại KDCN nói trên, loại KDCN này mang trong nó lất cã các yếu to thế hiện: hình dáng, học tiết và màu sac. Hiện nay, loại KDCN này là phố biến nhất do nhu cầu về thẩm mỹ ngày càng cao cúa con người, cùng với trình độ sáng tạo và khoa học kỹ thuật phát triển giúp tạo ra những KDCN này.
Bão hộ kiểu dáng công nghiệp Bào hộ KDCN thực chất là việc báo hộ quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) của chú sờ hữu đối với KEXEN iện Viên Đại học Mơ Hà Nội Khái niệm quyền SHCN là một bộ phận cấu thành cùa một khác niệm có nội hàm rộng hơn đó là quyên SHTT. SHTT có thê được hiêu một cách chung nhât là những kết quả sáng tạo trí tuệ mang tính vô hình nhưng lại có ý nghĩa rất lớn khi được ứng dụng vào các sàn phẩm hữu hình, đó là những sàn phẩm của quá trình sáng tạo khoa học, công nghệ, văn học, nghệ thuật, khoa học. Công ước thành lập WIPO tại Stockholm ngày 14/07/1967 đã đưa ra hệ thống các đối tượng thuộc phạm trù SHTT được chấp nhận trên toàn thế giới, theo đó quyền SHTT phân thành hai nhánh quyền là Quyền tác già và quyền SHCN. Theo pháp luật Việt Nam, Luật SHTT với tư cách là một đạo luật chuyên ngành điều chỉnh về SHTT cũng quy định cụ thề hơn về quyền SHCN.
theo đó, quyền SHCN là: ‘‘Quyền hợp pháp cùa tổ chức, cá nhăn đối với sáng chế, kiều dáng công nghiệp, thiết kế bốtrí mạch tích hợp hán dan, nhãn hiệu, tên thương mại, chi dan địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chong cạnh tranh không lành mạnh". 7 Như vậy, theo định nghĩa trên và phù hợp với quan niệm truyền thống, quyền SHCN là một bộ phận cùa quyền SHTT. nó là dạng quyền lài sán, đó là quyền đối với loại tài sán vô hình, có giá trị thương mại và dược báo hộ. Quyền SHCN đối với KDCN phát sinh trên cở sờ văn bằng báo hộ được cơ quan Nhà nước có thấm quyền cấp.
Bào hộ quyền SHCN đối với KDCN là một bộ phận quan trọng của bảo hộ quyền SHCN nói riêng và quyền SHTT nói chung. Theo nghĩa hẹp, bảo hộ quyền SHCN là việc thực hiện một số hoạt động cùa các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền đế ngăn chăn, xử lý bất kỳ sự vi phạm nào nhằm đảm bào quyền và lợi ích hợp pháp cùa các chu thế sớ hữu đối tượng SHCN được báo hộ. Theo nghĩa rộng, bào hộ quyền SHCN là sự ghi nhận về mặt pháp lý về tồng thể các quyền SHCN. quy định những biện pháp, cách thức đề thực hiện các quyền đó và ngăn chặn, xử lý những hành vi xâm phạm các quyền được báo vệ.
Trước khi Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sớ hữu trí tuệ 1995 (Hiệp định TRIPS) ra dời. khái niệm báo hộ quyền SHTT thường dược hiểu theo nghĩa hẹp, Sự ra đời của TRIPS đã nhấn mạnh đến các quan hệ giữa báo hộ và thực thi quyền. Điều 3,4 Phụ lục cùa TRIPS đã quy định rõ: “Thuật ngữ bão hộ phái bao gồm các vấn đề ảnh hưởng đen khá năng đạt được, việc đạt được, phạm vi, việc duy trì hiệu lực và việc thực thi quyên SHTT cũng như các van đề ánh hướng đen việc sử dụng quyền SHTT được quy định trong Hiệp định." Với cách giái thích này, bào hộ quyền SHTT được hiếu theo một nghĩa rất rộng, không chi bao gồm việc xác lập quyền SHTT cho chú sở hữu theo trình tự trong pháp luật mà còn chú trọng đến các biện pháp đế đàm bảo thực thi quyền này. Qua sự phân tích trên, bão hộ quyền sở hừu công nghiệp đối với KDCN về phương diện pháp lý có thế hiểu như sau: Bão hộ quyền SHCN đối với KDCN là việc Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật nhằm xác lập, duy trì quyềnSHCN đoi với KDCN cho các chi sờ hữu KDCN và áp dụng các biện pháp thực thi quyền nham chong lại bất kỳ sự vi phạm nào từ phía các chù thê khác.
Ý nghĩa của việc bảo hộ kiểu dáng công nghiệp 1. Đối với quốc gia 8 Bào vệ KDCN giúp phát triển kinh tế, bàng cách khuyến khích tính sáng tạo trong các ngành sản xuất và công nghiệp, cùng như trong ngành thú công và mỹ nghệ. Chúng góp phân mớ rộng các hoạt động thương mại và xuât khâu sản phâm quốc nội. Các kiều dáng công nghiệp có thể khá đơn giãn và không tốn kém khi thiết kết và bào hộ.
Chúng có thế dỗ dàng tiếp cận với các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như với các nghệ sỹ và nghệ nhân ờ cà các quốc gia công nghiệp hoá và các quốc gia đang phát triển. Dối với chủ sở hữu Kiểu dáng công nghiệp có tầm quan trọng rất lớn đối với các sản phẩm của doanh nghiệp.