Chương 1 MOT SO VAN DE LY LUAN VE BAO HIEM THÁT NGHIỆP VÀ SU DIEU CHINH CUA PHAP LUAT 1. Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm thất nghiệp 1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp Thất nghiệp được coi là một vấn đề trọng tâm trong xã hội ngày nay, là vấn nạn chung mà hầu hết các nước trên thế giới phải đối mặt. Đó là hiện tượng người có năng lực lao động không có cơ hội tham gia lao động, bi tách khỏi tư liệu sản xuất.
Tác động của thất nghiệp đến sự phát triển, 6n định kinh tế, chính trị và xã hội của mỗi quốc gia là rất lớn, làm cho tình hình chính trị xã hội bất ôn, tội phạm và các tệ nạn xã hội gia tăng. Thất nghiệp là hiện tượng tất yếu, khách quan trong nền kinh tế thị trường, nhưng nếu tỷ lệ thất nghiệp vượt quá giới hạn cho phép thì nó sẽ trở thành vẫn đề xã hội gay can, dé lai hậu quả trên các mặt kinh tế, xã hội, tâm lý. Chính vì vậy, BHTN ra đời như một yếu tố đóng vai trò thăng băng trong nên kinh tế, đối với NLĐ, NSDLĐ, đối với Nhà nước và xã hội, hạn chế thất nghiệp và bảo đảm đời sống cho NLĐ trong trường hợp bị thất nghiệp được ôn định là mục tiêu chung của các quốc gia và các tô chức quốc tế và khu vực. Thực tế hiện nay, do ảnh hưởng của ý thức hệ và nhận thức xã hội nên có rất nhiều khái niệm về thất nghiệp được đưa ra bởi các tô chức, các nhà khoa học khác nhau.
Tuy nhiên, các lý thuyết về thất nghiệp đều cho thay một điều cơ ban là trong nền kinh tế thị trường vẫn có một bộ phận NLD that nghiép [35]. Điều 20 Công ước số 102 (1952) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra khái niệm thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là hiện tượng NLĐ bị ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc ” [37]. Như vậy, với cách hiểu chung nhất, thất nghiệp là tình trạng NLĐ muốn có việc làm mà không tìm được việc làm. Tình trạng thất nghiệp là một trong những vấn đề nan giải, chính vì vậy cần phải có những biện pháp và chính sách thích hợp để giúp cải thiện, cân băng đời sống xã hội.
Từ đó, BHTN ra đời và đóng vai trò nhằm hỗ trợ NLĐ khi rơi vào tình trạng thất nghiệp, có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật về BHTN trong đời sống xã hội cũng như việc xác định vị trí, vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về BHTN. Ở Việt Nam, tình trạng NLĐ thất nghiệp vẫn còn ở mức cao, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Để hạn chế những tác hại từ tình trạng thất nghiệp gây ra, ngày 01/01/2009, chế độ BHTN chính thức được thông qua và trở thành chính sách mang tính nhân văn, chia sẻ cộng đồng. Chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về định nghĩa BHTN trước khi Luật Việc làm 2013 ra đời.
Theo khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013 quy định: “BHTN là chế độ nhằm bù đắp một phan thụ nhập của NLD khi bi mat viéc lam, hé tro NLP hoc nghé, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ BHTN `. Như vậy, từ quy định của pháp luật có thể hiểu, BHTN là một trong những biện pháp hỗ trợ NLĐ khi NLĐ bị mất việc làm thông qua việc tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung do NLĐ, NSDLĐ đóng góp và có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Nhìn chung, BHTN chính là công cụ bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ một cách hữu hiệu, là một chính sách cua thị trường lao động tích cực nhằm ngăn chặn tình trạng thất nghiệp. Đặc điểm bảo hiểm thất nghiệp BHTN là tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường, đòi hỏi mỗi quôc gia phải có các chính sách điêu chỉnh vừa nhăm đảm bảo quyên lợi của NLD khi bị thất nghiệp, vừa duy trì và phát triển nền kinh tế.
BHTN có những điểm đặc trưng riêng biệt, khác so với BHXH hay các loại bảo hiểm thương mại, cụ thể như sau: Về đối tượng: Đối tượng được hưởng chế độ BHTN là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng bị mất việc làm, tạm thời không có thu nhập, có nhu cầu tìm việc làm và sẵn sàng quay trở lại làm việc. Như vậy, khác với đối tượng của các chế độ BHXH khác là những NLD van dang tồn tại quan hệ lao động như chế độ trợ cấp ốm đau, thai sản; hoặc chấm dứt quan hệ lao động do không còn khả năng tiếp tục làm việc như hưu trí, tử tuất [14]. Về mục đích: BHTN cũng hướng tới việc bù đắp một phần nào đó về lợi ích cho đối tượng hưởng bảo hiểm cũng giống như các chế độ bảo hiểm khác. BHTN xuất phát từ quan hệ lao động, tuy nhiên khi thực hiện chủ yếu thuộc về lĩnh vực việc làm.
BHTN khác các chế độ bảo hiểm khác ở chỗ, ngoài việc giúp hỗ trợ về kinh tế đối với NLĐ bị mắt việc còn giúp họ xúc tiến những hoạt động tìm kiếm, giới thiệu việc làm, đào tạo nghề đề họ có thể quay trở lại và tham gia vào thị trường lao động. Ngoài ra, BHTN không nhằm mục đích lợi nhuận, sinh lời mà chỉ mang mục đích bù đắp một phần về lợi ích đối với đối tượng người được thụ hưởng. Bên cạnh đó, BHTN là chế độ bảo hiểm ngắn hạn, chỉ xuất hiện khi NLĐ thất nghiệp, không chỉ trả dài hạn như chế độ hưu trí. Về cơ chế quản lý và tổ chức thực hiện của BHTN: Việc thực hiện chế độ BHTN trên thực tế rất phức tạp và khó quản lý, khác hắn việc quản lý đối với các loại bảo hiểm khác.
NLĐ bị mất việc từ nhiều nguyên nhân nên không thê dự tính trước được quy mô và tỷ lệ thất nghiệp một cách chính xác, do đó, gây ra khó khăn lớn trong việc hạch toán và cân đối thu — chỉ của quỹ BHTN. Việc xác định điều kiện hưởng TCTN cũng bất cập hơn so với các chế độ BHXH khác. Thực tế, việc thực hiện đăng kí, thống kê và phân loại người thất nghiệp để đưa ra các biện pháp hỗ trợ phù hợp với từng đối tượng là khá khó khăn, một phần nguyên nhân là do khó xác định và kiểm tra ranh giới phân định giữa có việc làm và không có việc làm, giữa có thu nhập và không có thu nhập. Hoạt động của BHTN có mối quan hệ mật thiết với hệ thống đào tạo nghề, các trung tâm giới thiệu việc làm, đòi hỏi cần có sự phối hợp đồng bộ, linh hoạt giữa cơ quan quản lý BHTN với các cơ quan khác trong lĩnh vực lao động việc làm [15].
Cơ quan BHTN vừa có trách nhiệm hoàn thành tốt chuyên môn trước khi trả TCTN, vừa phải nắm bắt kịp thời các thông tin về thị trường lao động để giới thiệu việc làm, đào tạo nghề phù hợp đối với NLĐ bị thất nghiệp. Vai trò, ý nghĩa của bảo hiểm thất nghiệp BHTN đóng vai trò rất lớn trong việc đảm bảo mục tiêu ASXH và phát triển kinh tế, chính trị của mỗi quốc gia. Không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo đời sống cho cá nhân người thất nghiệp, tạo cơ hội cho họ quay trở lại với thị trường lao động mà BHTN còn góp phần quan trọng tạo nên sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. - Đối với người lao động BHTN là chỗ dựa cả về tỉnh thần và vật chất cho NLĐ trang trải cuộc sống, đáp ứng những nhu cầu tối thiểu trong thời gian họ bị mất việc làm, mất đi nguồn thu nhập.
Trong nên kinh tế thị trường như hiện nay, tinh trang NLD bi mat việc làm là điều không thê tránh khỏi, từ đó, việc thực hiện BHTN góp phần đảm bảo mục tiêu ASXH. Không chỉ vậy, BHTN còn giúp NLĐ có cơ hội được học nghè, tìm kiếm những công việc mới phù hợp hơn đề có thê tiếp tục tham gia vào thị trường lao động, tiếp tục phân đấu vươn lên. Có thê nói, BHTN chính là “bà đỡ” về kinh tế, giúp NLD không may vi một lý do nào đó mà bị mất việc làm, giúp họ giữ được trạng thái cân băng về 10 tâm lý, hạn chế được những cú sốc về tinh thần. Khi NLĐ mất thu nhập, lúc này cuộc sống của họ không chỉ dừng lại ở những khó khăn về tài chính mà còn có thể là những sự bất hạnh, trầm uất về mặt tinh thần [35].
Cuộc sống của NLĐ bị mắt việc làm sẽ trở nên hết sức nặng nề về tất cả mọi mặt nếu như không có TCTN. Nhờ vào chính sách BHTN mà trong khoảng thời gian nhất định, NLĐ sẽ được hỗ trợ một khoản chi phí, tuy không lớn nhưng cũng tạo điều kiện góp phần giúp cho NLĐ có thêm cơ hội tìm kiếm việc làm phù hợp. BHTN là một chế độ quan trọng và cần thiết đối với NLĐ, thê hiện tính nhân văn sâu sắc bởi nó không chỉ giúp người thất nghiệp đảm bảo mức sống tối thiểu mà còn là sự chia sẻ rủi ro đối với NLĐ bị mất việc làm. Thực hiện tốt chính sách này sẽ góp phần cải thiện ASXH, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Đối với người sử dụng lao động Khi tham gia BHTN, NSDLĐ sẽ không phải chị trả một khoản chi phí lớn để giải quyết chế độ cho NLD. Nhờ vậy, gánh nặng tài chính của doanh nghiệp sẽ được san sẻ. Ngoài ra, BHTN là một trong những biện pháp giúp đỡ doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh, mở rộng hoạt động và thu hút nguồn nhân lực. Khi NSDLĐ đảm bảo được các chế độ ASXH và NLĐ nắm rõ mình được tham gia BHTN, nắm rõ quyền được hưởng trợ cấp thất nghiệp, họ sẽ yên tâm làm việc, tạo ra năng suất và chất lượng cao, cống hiến được nhiều hơn cho doanh nghiệp.
Từ đó, NSDLĐ sẽ luôn giữ được cho doanh nghiệp mình những NLĐ vừa có tay nghề cao, vừa có kinh nghiệm và gắn bó lâu dài, góp phần tăng lợi nhuận và hiệu quả sử dụng sức lao động. Mặt khác, các chính sách BHTN còn cung cấp thông tin, tư vấn giúp kết nối cho những người cần việc làm và người cần lao động tìm thấy nhau, từ đó hiệu qua lao động được tạo ra cao hon [16].