Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN VÈ BẢO HIẾM THAI SẢN VÀ THỤ C HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIÉM THAI SẢN 1. Khái quát chung về bảo hiếm thai sản 1. Khái niệm • bảo hiểm xã hội • Bảo hiểm xã hội ở nước ta xuất hiện từ những năm 30 của thế kỷ XX nhưng đến năm 1946, sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, các văn bản pháp luật quy định về bảo hiểm xã hội mới chính thức được ban hành bao gồm: Hiến pháp năm 1946, sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947, sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 quy định “Chế độ công chức” và sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 quy định “Chế độ công nhân”. Một trong những chế định đầu tiên về bảo hiểm xã hội đã được ghi nhận trong Hiến pháp 1946: “Những người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ.
Hiến pháp 1980 một lần nữa khẳng định quyền được hướng bảo hiểm xã hội của công nhân viên chức, là việc quy định Nhà nước mở rộng dần sự nghiệp bảo hiểm xã hội theo trình độ phát triển của nền kinh tế quốc dân để người lao động nói chung được hưởng quyền lợi đó, kể cả xã viên các hợp tác xã.[29, Điều 59] Đặc biệt: “Nhà nước thực hiện chính sách ưu đãi đối thương binh và gia đình liệt sỹ, tạo điều kiện cho thương binh phục hồi chức năng lao động, có việc làm phù hợp với sức khoẻ và có cuộc sống ồn định. Những người và những gia đình có công với cách mạng được khen thương và chăm sóc. Người già và người tàn tật không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ. Trẻ mồ côi được Nhà nước và xã hội nuôi dạy”.
[29, Điều 74] Các quy định về bão hiểm xã hội dần hoàn thiện và phát triển từ khi đất nước chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992 được thông qua ngày 15/4/1992 đã quy định ở một tầm 7 cao mới những vân đê thuộc vê an sinh xã hội. Trên cơ sở Hiên pháp mới, nhiều văn bản trong lĩnh vực an sinh xã hội được ban hành như: Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/8/1992 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ về bảo hiểm y tế; Quyết định số 15/TTg ngày 20/10/1992 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đối với các cơ sờ sản xuất, kinh doanh của thương bệnh binh và người tàn tật; Nghị định số 43/CP ngày 22/6/1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ bảo hiểm xã hội. Tuy số lượng các văn bản về an sinh xã hội được ban hành trong giai đoạn này khá nhiều nhưng vẫn còn nhiều hạn chế.
Cho đến thời điểm hiện tại, văn bản quy phạm pháp luật về bão hiểm xã hội được ban hành nhiều, văn bản chủ chốt và quan trọng phải kể đến là Luật bảo hiếm xã hội năm 2014. Ngoài ra, còn có các văn bản pháp luật khác cũng quy định, hướng dẫn về bảo hiểm xã hội như Nghị định số 115/2015/NĐ-CP, Thông tư số 59/2015/TT-BLĐTBXH,. Tuy nhiên, khi bàn đến khái niệm bảo hiếm xã hội thì tùy theo góc độ nhìn nhận • mà khái niệm • bảo hiếm xã hội • được • tiếpJL cận • ớ nhiều khía cạnh • khác nhau. Dưới góc độ kinh tế: Bảo hiểm xã hội được hiểu là một phạm trù kinh tế, là sự đảm bảo thu nhập nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi bị giảm hoặc mất khả năng lao động.
Bão hiểm xã hội không trực tiếp chữa bệnh khi người lao động ốm đau, tai nạn hay sắp xếp công việc mới cho họ khi họ mất việc làm mà chỉ giúp đỡ họ có một phần thu nhập khi người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động. Dưới góc độ pháp lý: Chế độ bảo hiểm xã hội là tổng hợp những quy định của pháp luật, do Nhà nước ban hành, quy định về các hình thức đảm bảo về vật chất và tinh thần cho người lao động hoặc người thân trong gia đình người lao động khi họ bị mất hoặc giảm một phần khả năng lao động. 8 Theo Từ điên Tiêng Việt, bảo hiêm xã hội là sự: “Bảo đảm những quyền lợi vật chất cho công nhân, viên chức khi không làm việc được vì ốm đau, sinh đẻ, già yếu, bị tai nạn lao động” [47, tr. Giáo trình Luật lao động của Khoa luật Đại học quốc gia Hà Nội định nghĩa: “Dưới góc độ pháp lỷ, bảo hiểm xã hội là tông hợp các quy định của nhà Nước đê điều chỉnh các quan hệ kình tế - xã hội hình thành trong lĩnh vực bảo đảm trợ cấp nhằm ôn định đời sống cho người lao động khi họ gặp những rủi ro, hiêm nghèo trong quá trình lao động hoặc khi già yếu không còn khả năng lao đông“.
312-313] Trong khi đó, theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 thì “Bao hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. "[32, Điều 3, Khoản 1] Theo nghĩa chung nhất, bào hiềm xã hội có thể hiểu là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho nguời lao động khi họ bị giảm, mất hoặc hết khả năng lao động trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội không chỉ mang lại lợi ích cho người lao động mà còn góp phần đảm bảo và ổn định kinh tế cho người lao động, mặt khác bảo hiểm xã hội là cơ sờ ốn định và phát triển an sinh xã hội của quốc gia. Khái niệm, ỷ nghĩa bảo hiếm thai sản ì.
Khái niệm báo hiêm thai sản Hiện nay, lực lượng lao động nữ có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước bởi họ tham gia lao động trong mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội và chiếm tỷ lệ lớn trong lực lượng lao động. Khác với lao động nam, hầu hết lao động nữ đều trải qua 9 thời gian mang thai, sinh đẻ, họ phải nghĩ việc, không có lương. Trong thời gian đó, sức khỏe của lao động nữ ít nhiều bị suy giảm, kinh tế cũng giảm sút do không có lương và sự xuất hiện của thành viên mới trong gia đình, điều này ảnh hưởng không nhò đến đời sống của gia đình người lao động nữ. Chính vì vậy, việc xây dựng một chính sách xã hội để bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ là điều cấp bách và cần thiết.
Chính sách xã hội đó chính là bảo hiểm thai sản. Tương tự các chính sách xã hội khác, bảo hiểm thai sản vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt thiên chức làm mẹ vừa tạo điều kiện để • • • • 9 9 9 lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội. Ngay kỳ họp đầu tiên và trong suốt quá trình hoạt động, Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) đã ban hành nhiều công ước và khuyến nghị để thể hiện sự quan tâm, báo vệ sức khỏe cũng như quyền lợi cho lao động nữ. Đỏ là Công ước số 3 năm 1919, Công ước số 102 năm 1952, Khuyến nghị số 95 (sửa đổi năm 1952), Công ước số 103 (xét lại năm 1952), Công ước số 183 năm 2000 và Khuyến nghị số 191.
Ngoài ra, Tổ chức Liên hợp quốc (UN) cũng có một số công ước đề cập vấn đề này, đó là: Công ước về quyền kinh tế xã hội, văn hoá năm 1996, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ năm 1979. Mục đích của các công ước và khuyến nghị này là nhằm đảm bào cho lao động nữ, trẻ sơ sinh được chăm sóc cần thiết, được bảo vệ mức sống trong thời kỳ người mẹ sinh con phải nghỉ việc, đồng thời bão vệ lao động nữ trong thời gian sinh con không bị mất việc làm và sau thời gian nghỉ vẫn được làm đúng công việc cũ với mức lương giữ nguyên. Theo đó, các công ước này đã ấn định chế độ chăm sóc y tế, thời gian nghỉ cũng như các khoản trợ cấp đối với lao động nữ trong thời gian mang thai và sinh con. 147-148] Việc ban hành hành các công ước, khuyển nghị trên của các tổ chức quốc tế, cho thấy tầm quan trọng của bảo hiểm thai sản đổi với lao động nữ 10 nói riêng và lực lượng lao động nói chung.
Vậy bảo hiêm thai sản là gì? Nó có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với lao động nữ? Câu trả lời ở đây là tùy vào đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi nước mà chế độ bão hiểm thai sản được quy định khác nhau. Ở nước ta, bảo hiểm thai sản được quy định song song với các chế độ bảo hiểm xã hội khác, tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể khái quát nội hàm của bão hiểm thai sản. Theo Giáo trình Luật an sinh xã hội, chế độ bảo hiểm thai sản là một trong các chế độ bảo hiểm xã hội bẳt buộc, bao gồm tổng hợp các quy định của Nhà nước nhằm bảo hiểm thu nhập và đảm bảo sức khỏe cho lao động nữ nói riêng khi mang thai, sinh con và cho người lao động nói chung khi nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai. 149] Bảo hiểm thai sản là một trong các chế độ bảo hiểm xã hội, nhằm đàm bảo một phần thu nhập bị giảm và chi phí tăng lên cũng như đảm bảo sức khỏe cho lao động nữ nói riêng trong quá trình mang thai, sinh con và cho người lao động nói chung khi nuôi con sơ sinh.
Từ đó, chúng ta có thể hiểu bào hiểm thai sản là một chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc do Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo hoặc bù đắp một phần thu nhập cho lao động nữ khi bị giảm hoặc mất thu nhập liên quan đến thai sản trên cơ sở đóng góp vào quỳ bảo hiếm xã hội. Thông qua việc bù đắp một phần chi phí tăng lên trong quá trình thai nghén, sinh con, nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai, bảo hiểm thai sản nhằm giữ cân bằng về thu nhập, tạo sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khỏe cho người lao động và trẻ sơ sinh. Qua đó, chế độ bảo hiểm thai sản góp phần thực hiện sự bình đắng về nghĩa vụ và quyền lợi cũng như có sự chia sẻ giữa những người tham gia bảo hiểm.