ĐẶT VẤN ĐỀ Tình trạng nhân viên y tế (NVYT) bị bạo hành ngay trong cơ sở khám chữa bệnh là một vấn đề đang lan rộng và trở nên phổ biến trên toàn thế giới, ở cả quốc gia phát triển và đang phát triển, tuy nhiên thƣờng xuyên không đƣợc báo cáo một cách đầy đủ (1). Bạo hành đối với nhân viên y tế (BHĐVNVYT) không chỉ ảnh hƣởng đến sức khoẻ (thể chất lẫn tinh thần) của NVYT mà còn ảnh hƣởng đến động lực làm việc, năng suất lao động, mối quan hệ với tổ chức và từ đó tác động tiêu cực lên cơ sở y tế. Ngoài ra, BHĐVNVYT còn gây ra những tác động không thể đo lƣờng đƣợc, bao gồm sự kính trọng, niềm tin của cộng đồng đối với ngành y tế, sự ổn định xã hội và nhiều vấn đề khác (1). Tại Việt Nam, tình trạng bạo hành tại các cơ sở y tế đang có xu hƣớng gia tăng cả về số lƣợng cũng nhƣ tính chất nghiêm trọng của sự việc.
Theo thống kê của Cục Quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế, số vụ hành hung NVYT xảy ra trong hai năm 2017 và 2018 nhiều hơn so với tất cả các năm trƣớc đây (23 vụ so với tổng số 12 vụ xảy ra trong cả 3 năm 2014, 2015, 2016; và so với tổng số 10 vụ trong cả 3 năm 2011, 2012, 2013) (2-3). Bên cạnh đó, một số nghiên cứu gần đây đã cho thấy khoảng 65-85% NVYT bị bạo hành về tinh thần và khoảng 3-17% bị bạo hành về thể chất (4-6). Từ đó có thể thấy rằng tình trạng bạo hành NVYT ngày càng tăng về số lƣợng và mức độ, cần đƣợc quan tâm nghiên cứu và theo dõi nhiều hơn để có những cơ sở tác động đến các cơ quan quản lí nhà nƣớc, lãnh đạo các cơ sở y tế để đƣa ra những biện pháp phù hợp và hữu hiệu để ngăn chặn Bệnh viện Đa khoa (BVĐK) Khu vực Tháp Mƣời là bệnh viện (BV) hạng II, thuộc Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp với quy mô 250 giƣờng bệnh, Bệnh viện hiện có 17 khoa, 07 phòng chức năng và 272 NVYT, thực hiện các chức năng nhiệm vụ: cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh, đào tạo cán bộ y tế, nghiên cứu khoa học về y học, chỉ đạo tuyến dƣới về chuyên môn kỹ thuật, phòng bệnh, hợp tác quốc tế, quản lý kinh tế trong BV. Hàng ngày Bệnh viện tiếp nhận từ 900 đến 1.500 lƣợt bệnh nhân đến khám và điều trị, bệnh viện luôn trong tình trạng hầu nhƣ quá tải, dẫn đến áp lực làm việc của NVYT tăng cao không tránh khỏi sơ suất trong quá trình làm việc.
Trong năm 2 2020, Bệnh viện đã ghi nhận khoảng 60 trƣờng hợp NVYT bị bạo hành tại nơi làm việc (khoảng một phần năm trong số đó là bạo hành về thể chất), đối tƣợng gây ra chủ yếu là ngƣời nhà ngƣời bệnh; phần lớn NVYT bị bạo hành là bác sĩ và điều dƣỡng tại các khoa lâm sàng, điều này ảnh hƣởng đến quá trình khám chữa bệnh cũng nhƣ tâm lý lo lắng trong quá trình công tác của đội ngũ NVYT. Trƣớc tình trạng NVYT của BV bị bạo hành ngày càng gia tăng về số lƣợng và tính chất, ban giám đốc đã xây dựng và ban hành một số văn bản để đảm bảo an toàn nghề nghiệp cho NVYT, bao gồm kế hoạch phối hợp với công an trên địa bàn bệnh viện đến hổ trợ kịp thời khi có sự việc bạo hành xảy ra, bệnh viện cũng thƣờng xuyên tuyên truyền qui tắc ứng xử trong nhân viên BV, về phía công đoàn cũng có xây dựng qui chế hỗ trợ bằng hiện vật cho nhân viên không mai gặp sự cố do bạo hành (7). Tuy nhiên, từ đó đến nay còn rất nhiều trƣờng hợp bạo hành về tinh thần hay thể chất khác chƣa đƣợc báo cáo và ghi nhận, gây ảnh hƣởng đến động lực làm việc và sự gắn kết của NVYT với bệnh viện. Cho đến nay chƣa có nghiên cứu chính thức về bạo hành tại BV.
Vì vậy, nhằm đánh giá thực trạng và tìm hiểu các yếu tố tác động dẫn đến tình trạng bạo hành NVYT tại bệnh viện, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp, tác giả thực hiện nghiên cứu: “Bạo hành đối với nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng và một số yếu tố ảnh hƣởng tại Bệnh viện đa khoa khu vực Tháp Mƣời năm 2021”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng bạo hành đối với nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa khu vực Tháp Mƣời năm 2021; 2. Phân tích một số yếu tố ảnh hƣởng đến bạo hành đối với nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện đa khoa khu vực Tháp Mƣời năm 2021.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu 1. Bạo hành nơi làm việc 1. Định nghĩa Tổ chức Quản lý An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp – Bộ Lao động Hoa Kỳ (Occupational Safety and Health Administration – viết tắt là OSHA) định nghĩa BHNLV là: “bất kỳ hành động hoặc đe dọa nào về thể chất, quấy rối, bắt nạt hoặc hành vi gây rối khác xảy ra tại nơi làm việc.
BHNLV bao gồm nhiều mức độ, từ những đe dọa và lạm dụng bằng lời nói đến những hành vi tấn công vật lý và thậm chí giết ngƣời, nó có thể ảnh hƣởng và liên quan đến ngƣời lao động, khách hàng, ngƣời đi cùng, và khách tham quan” (8). Cơ quan Lao động Quốc tế (International Labor Organization –viết tắt là ILO) định nghĩa BHNLV là “bất kỳ hành động, sự việc hoặc hành vi nào lệch khỏi quy tắc ứng xử phù hợp, trong đó một ngƣời bị tấn công, đe doạ, tổn hại hoặc tổn thƣơng trong quá trình làm việc của họ” (9). Viện An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp Quốc gia (National Institute for Occupational Safety and Health – viết tắt là NIOSH), thuộc Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống dịch bệnh Hoa Kỳ (Centers for Disease Control and Prevention – viết tắt là CDC) định nghĩa BHNLV “là hành động hoặc đe dọa bạo hành, từ lạm dụng bằng lời nói đến các cuộc tấn công vật lý hƣớng tới những ngƣời lao động tại nơi làm việc hoặc đang thi hành công vụ. Mức độ tác động của BHNLV có thể từ các vấn đề về tâm lý đến những tổn thƣơng về thể chất, thậm chí tử vong.
Bạo hành có thể xảy ra ở bất kỳ nơi làm việc nào và đối với bất kỳ ngƣời lao động nào, nhƣng nguy cơ về bạo hành chết ngƣời thƣờng cao hơn đối với ngƣời lao động làm việc trong lĩnh vực bán hàng, dịch vụ bảo vệ, vận chuyển, trong khi nguy cơ về các bạo hành không chết ngƣời cao hơn đối với nhân viên chăm sóc sức khỏe và cán bộ công tác xã hội” (10). Nhƣ vậy, hầu hết các định nghĩa về bạo hành tại nơi làm việc đều đề cập đến cả hành vi bạo hành về thể chất lẫn tinh thần, có thể dao động từ mức độ thấp nhƣ 5 sự thiếu tôn trọng, sự xúc phạm, đe doạ bằng lời nói đến mức độ cao hơn nhƣ bắt nạt, quấy rối tình dục, phân biệt đối xử, tấn công vật lý và giết ngƣời. Phân loại Phân loại theo đối tượng gây bạo hành nơi làm việc Tổ chức Cal/OSHA lại chia BHNLV thành 4 loại (8): - Loại I: Đối tƣợng thực hiện hành vi bạo hành không có mối quan hệ pháp lý nào với nơi làm việc và, thông thƣờng, mục đích chính của hành vi bạo hành là lấy tiền mặt hoặc tài sản có giá trị hoặc thể hiện quyền lực (hay còn gọi là bạo hành tội phạm). - Loại II: Đối tƣợng thực hiện hành vi bạo hành có liên quan tới ngƣời sử dụng dịch vụ, ngƣời chịu ảnh hƣởng bởi nơi làm việc.
Ví dụ: sự đe doạ, tấn công của ngƣời dân đối với cảnh sát; của bệnh nhân/ngƣời nhà đối với nhân viên y tế… - Loại III: Đối tƣợng thực hiện hành vi bạo hành là ngƣời lao động, có thể là đồng nghiệp, giám sát viên, ngƣời quản lý… Ví dụ: bắt nạt, quấy rối tình dục của cấp trên đối với cấp dƣới. - Loại IV: Đối tƣợng thực hiện hành vi là những ngƣời có mối quan hệ cá nhân đối với ngƣời lao động (ví dụ, vợ/chồng, ngƣời thân…). Phân loại theo hình thức bạo hành (1) BHNLV còn đƣợc phân loại theo hình thức bạo hành: bạo hành thể chất hay Bạo hành tinh thần. Tuy nhiên, cần lƣu ý rằng, bạo hành về thể chất và tâm lý thƣờng chồng chéo lên nhau trong thực tế khiến việc phân loại các hình thức bạo hành khác nhau rất khó khăn.
- Bạo hành thể chất: Việc sử dụng vũ lực chống lại một ngƣời hoặc nhóm ngƣời khác, dẫn đến tổn hại về thể chất, tình dục hoặc tâm lý. Bao gồm: đánh đập, đá, tát, đâm, bắn súng, đẩy, cắn, véo. + Tấn công/hành hung: Hành vi có chủ ý làm hại ngƣời khác về thể chất, bao gồm cả hành hung về tình dục (ví dụ: cƣỡng hiếp) 6 - Bạo hành tinh thần: Hành vi cố ý sử dụng quyền lực/quyền hạn, bao gồm cả việc đe doạ sử dụng vũ lực, chống lại một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời khác, có thể dẫn đến tổn hại về thể chất, tinh thần, tâm linh, đạo đức hoặc xã hội. Bao gồm: xúc phạm bằng lời nói, bắt nạt, quấy rối và đe doạ: + Lạm dụng bằng lời nói: Hành vi làm nhục, hạ thấp hay nói cách khác là thiếu sự tôn trọng nhân phẩm và giá trị của một cá nhân.
+ Bắt nạt: Hành vi công kích (hung hăng) lặp đi lặp lại nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định thông qua những nỗ lực có chủ đích, độc ác, độc hại để làm nhục hoặc làm suy yếu một cá nhân hoặc một nhóm nhân viên. + Quấy rối: Bất kỳ cách cƣ xử nào vì lý do tuổi tác, tình trạng khuyết tật, tình trạng HIV, hoàn cảnh gia đình, giới tính, khuynh hƣớng tình dục, phân định giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị, công đoàn, quan điểm, niềm tin, nguồn gốc quốc gia hoặc xã hội, tài sản, tình trạng bẩm sinh hoặc các tình trạng không mong muốn khác làm ảnh hƣởng tới phẩm giá của ngƣời lao động tại nơi làm việc. + Quấy rối tình dục: Bất kỳ hành vi không đƣợc sự mong muốn/mong đợi/tiếp nhận nào liên quan đến tình dục xúc phạm đến ngƣời có liên quan và khiến ngƣời đó cảm thấy bị đe doạ, bị làm nhục hoặc hổ thẹn.