CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ BẢO ĐẢM TIỀN VAY BẰNG TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG I. Khái niệm về bảo đảm tiền vay bằng tài sản trong hoạt động tín dụng 1. Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Nghĩa vụ nói chung, được hiểu là những việc mà một người bắt buộc phải làm hoặc không được làm đối với người khác. Trong quan hệ pháp luật dân sự, nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc khác hoặc không được thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi chung là bên có quyền) (Điều 280 BLDS2005).
Nhìn chung, việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự trước hết là dựa vào sự tự giác của các bên nhưng trong thực tế, không phải bất cứ ai khi tham gia giao dịch đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ của mình. Theo đó, bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện những nghĩa vụ của mình mà chỉ khi những nghĩa vụ đó được thực hiện đúng thì lợi ích hợp pháp của bên có quyền mới được bảo đảm. Do đó trên thực tế, bên có quyền sẽ lựa chọn “giải pháp an toàn” hơn cho mình, đó là dùng đến các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Điều này có nghĩa là khi xác lập quan hệ dân sự, bên có quyền thỏa thuận trước các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên có nghĩa vụ để khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền có thể được chủ động tiến hành các hành vi nhất định tác động trực tiếp đến thỏa thuận đó phải tuân theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo đảm thực hiện.
Thông qua các biện pháp này, người có quyền có thể chủ động tiến hành các hành vi của mình để tác động trực tiếp đến tài sản của phía bên kia nhằm thỏa mãn quyền lợi của mình khi đến thời hạn mà phía bên kia không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Phụ thuộc vào nội dung, tính chất của từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể, cũng như phụ thuộc vào điều kiện của các chủ thể tham gia quan hệ ấy mà mỗi biện pháp bảo đảm mang một đặc điểm riêng biệt. Ngoài ra, tất cả các biện pháp bảo đảm đều có các đặc điểm chung sau đây: - Các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ chính; Sinh viên: Phaidavanh BOUCHALEUNE 3 Lớp Luật Kinh doanh K50 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Khương Thị Quỳnh Hương - Các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự; - Đối tượng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất; - Phạm vi bảo đảm của các biện pháp bảo đảm không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ tài chính; - Các biện pháp bảo đảm nghĩa vụ chỉ được áp dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ; - Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ sự thỏa thuận giữa các bên.
Theo pháp luật Việt Nam hiện hành (khoản 1, điều 318 BLDS 2005) , các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: Cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cược; ký quỹ; bảo lãnh; tín chấp. Nghĩa vụ dân sự có thể được bảo đảm một phần hay toàn bộ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận hay pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ được xem như được bảo đảm toàn phần kể cả nghĩa vụ trả lãi và bồi thường thiệt hại. Các bên cũng được thỏa thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện (Điều 319 BLDS 2005). Vật được dùng để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự có tính đa dạng miễn là thuộc quyền sở hữu của người đứng ra bảo đảm và được phép giao dịch; vì thế ngoài các vật hữu hình thông thường như nhà cửa, xe cộ, ghe thuyền thì tiền, giấy tờ trị giá bằng tiền hay quyền tài sản- nếu các quyền này trị giá bằng tiền, quyền sử dụng đất đều có thể được dùng làm tài sản bảo đảm (Điều 320, Điều 715 BLDS 2005).
Từ khái niệm và những đặc điểm chung của các biện pháp bảo đảm, có thể nói rằng về bản chất pháp lí, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một loại “chế tài” trong nghĩa vụ dân sự. Chế tài này do các bên thỏa thuận đặt ra dưới sự bảo trợ của pháp luật. Các bên có thể tự áp dụng như đã thỏa thuận khi có sự vi phạm nghĩa vụ hoặc nếu không có thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để bảo đảm quyền lợi cho bên có quyền. Bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng Sinh viên: Phaidavanh BOUCHALEUNE 4 Lớp Luật Kinh doanh K50 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS.
Khương Thị Quỳnh Hương 2. Khái quát về hoạt động tín dụng Có thể nói, tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức hiện vật hay tiền tệ, từ người sở hữu sang người sử dụng sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn. Khái niệm tín dụng trên đây thể hiện ba mặt cơ bản : + Có sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác. + Sự chuyển giao mang tính chất tạm thời.
+ Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi lợi tức. Một quan hệ được gọi là tín dụng phải có đầy đủ cả ba mặt. Có nhiều định nghĩa khác nhau về tín dụng, tuỳ thuộc vào giác độ tiếp cận mà tín dụng có thể được hiểu như là sự trao đổi các tài sản hiện tại để được nhận các tài sản cùng loại trong tương lai. Hoặc có thể định nghĩa tín dụng như là quan hệ kinh tế, theo đó một người thoả thuận để người khác được sử dụng số tiền hay tài sản của mình trong một thời gian nhất định với điều kiện có hoàn trả.
Theo quy định trên, hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng thực chất là một loại giao dịch dân sự thể hiện dưới hình thức pháp lý là hợp đồng giữa một bên là tổ chức tín dụng và một bên là người đi vay vốn (cá nhân, doanh nghiệp….), theo đó tổ chức tín dụng thoả thuận để cho khách hàng sử dụng một số tiền của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả dựa trên cơ sở sự tín nhiệm. Trong bất cứ một giao dịch dân sự nào thì bên có quyền cũng đều mong muốn bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ và dùng các biện pháp khác nhau để bảo đảm cho lợi ích hợp pháp của mình. Ở đây cũng vậy, tổ chức tín dụng luôn mong muốn khách hàng khi vay vốn có thể trả nợ đủ và đúng hạn. Hơn nữa, điểm đặc trưng của loại giao dịch này là nguồn vốn mà tổ chức tín dụng cấp cho khách hàng lại chủ yếu là nguồn vốn huy động từ số tiền nhàn rỗi trong dân cư.
Vì thế, việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay để thu hồi được đủ và đúng nợ luôn là vấn đề trọng tâm trong hoạt động của các tổ chức tín dụng. Khái niệm bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng 2. Khái niệm Sinh viên: Phaidavanh BOUCHALEUNE 5 Lớp Luật Kinh doanh K50 Chuyên đề thực tập GVHD: ThS. Khương Thị Quỳnh Hương Theo nghĩa rộng, bảo đảm tiền vay là việc thiết lập các điều kiện nhằm xác định khả năng thực có của khách hàng đối với việc hoàn trả vốn vay đúng thời hạn (ví dụ: nếu khách hàng là cá nhân thì đòi hỏi phải có thu nhập thường xuyên).
Bảo đảm tiền vay không chỉ đơn thuần và duy nhất là cho vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh (tức là bảo đảm bằng tài sản). Với số tiền thu được từ việc bán sản phẩm, hàng hóa là nguồn tài chính chủ yếu để trả nợ cho ngân hàng nhưng không phải lúc nào cũng là hình thức bảo đảm việc trả nợ vốn vay trong thực tế. Từ thực tế hoạt động ngân hàng cho thấy, để có được số tiền để đảm bảo trả nợ vốn vay chỉ có được ở những doanh nghiệp có khả năng tài chính mạnh. Vì vậy, bảo đảm tiền vay chính là hàng loạt các giải pháp mà các tổ chức tín dụng đưa ra nhằm mục đích thực hiện cho được yêu cầu buộc vốn cho vay ra phải được quay về với người cho vay sau một chu kỳ nhất định với đầy đủ cả gốc và lãi.
Theo nghĩa hẹp, bảo đảm tiền vay là những biện pháp bảo đảm việc trả nợ vốn vay (cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba, cầm cố, thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay). Tóm lại, bảo đảm tiền vay chính là những thỏa thuận của người đi vay và người cho vay dựa trên các quy định của Nhà nước nhằm thiết lập các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo việc trả nợ vốn vay, ngăn ngừa vi phạm và tạo khả năng khắc phục những hậu quả do vi phạm nghĩa vụ trả nợ gây ra. Đặc điểm và vai trò của bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng Bảo đảm tiền vay là biện pháp phòng ngừa rủi ro, góp phần bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng `Như ta đã biết, rủi ro là một trong những đặc trưng của hoạt động tín dụng nói chung. Tuy nhiên, bảo đảm tiền vay thông thường chỉ được xem xét là biện pháp thay thế đứng vào hàng “thứ cuối”.
Vì trên thực tế, việc tổ chức tín dụng quyết định cấp tín dụng hay không không phải do nhìn nhận ở giá trị của tài sản đảm bảo mà là do bản thân sự “cuốn hút” của đơn xin vay, tính khả thi của dự án, khả năng tài chính của khách hàng vay.