phần mở đầu Công ước La Hay năm 1993 có nêu: “Công nhận rằng để phát triển hài hòa và toàn diện nhân cách của mình, trẻ em cần phải được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông. Công nhận rằng vấn đề con nuôi quốc tế có thể 17 có lợi thê là đem lại một gia đình lâu dài cho những trẻ em không tìm được một gia đình thích hợp tại Nước gốc của mình” [12]. Công ước La Hay ra đời nhằm thiết lập những bảo đảm để việc nuôi con nuôi quốc tế diễn ra vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em được công nhận trong luật pháp quốc tế; thiết lập một hệ thống hợp tác giữa các nước ký kết để đảm bảo quyền của trẻ được tôn trọng và đế đảm bảo tại các nước ký kết sự công nhận việc nuôi con nuôi được tiến hành theo Công ước. Như vậy, cơ sở pháp lý quốc tế đã chỉ ra rằng việc nuôi con nuôi là một biện pháp chăm sóc thay thế, tạo cho trẻ em một gia đình mới, thiết lập mối quan hệ pháp luật lâu dài giữa trẻ em và người nhận con nuôi.
“Trẻ em hôm nay - Thế giới ngày mai” đó là một thông điệp đã và đang là phương châm hành động của nhân loại tiến bộ. Cùng với công cuộc bảo vệ quyền trẻ em nói chung và quyền của trẻ em được chăm sóc thay thế nói riêng cần phải được quan tâm, bảo vệ hơn nữa đế đảm bảo rằng trẻ em - những chủ nhân tương lai được nuôi dưỡng trong môi trường lành mạnh, được phát triền toàn diện cả về thể chất và tinh thần. Trong pháp luật Việt Nam Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình thương yếu và quan tâm đặc biệt cho trẻ em, trong tồng số các di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có rất nhiều bài viết Người đề cập đến trẻ em và quyền trẻ em. Thông qua các bài báo, bài viết cùng với những việc làm cụ thế, thiết thực của Người đã toát lên những quan điếm cơ bản của Người về quyền của trẻ em.
Những quan điếm đúng đắn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kim chi nam soi đường cho Đảng, Nhà nước ta đề ra đường lối, chính sách và pháp luật thực hiện quyền của trẻ em Việt Nam từ khi khai sinh đất nước cho tới hiện nay. Ở Việt Nam, quyền trẻ em đã được hiến định từ bản Hiến pháp đầu tiên là Hiến pháp năm 1946, trực tiếp tại Điều 14: “Nhũng người công dân già cả hoặc tàn tật không làm được việc thì được giúp đỡ. Trẻ con được săn sóc về mặt giáo dưỡng” [13], ngoài ra quyền trẻ em còn được hàm chứa trong một số điều khác. Quyền trẻ em cũng được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 (gồm cả lần 18 sửa đôi, bô sung vào nám 2001), năm 2013.
Trong Hiên pháp năm 1992, quyên trẻ em được chế định trực tiếp trong Điều 40 “Nhà nước, xã hội, gia đình và công dân có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em; thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hoá gia đình” [15]. Hiến pháp năm 2013, quyền trẻ em được quy định trực tiếp tại khoản 1, Điều 37: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” [18]. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bên cạnh các bản Hiến pháp, còn có nhiều văn bản pháp luật khác cũng chứa đựng những quy định trực tiếp hoặc gián tiếp về quyền trẻ em ở nhiều lĩnh vực như: Hình sự, giáo dục, y tế, lao động, bảo hiếm, hôn nhân và gia đình ., tuy nhiên, các nội dung về quyền của trẻ em được chãm sóc thay thế chỉ được quy định trực tiếp tại các văn bản pháp lý về bảo vệ trẻ em, cụ thể như sau: Pháp lệnh về Bào Luật Bão vệ, vệ, chàm sóc và chẩm sóc va giáo dục trẻ em giáo dục trẽ em năm 1979 nãni 2004 1 k 97< í F Luật Bão vệ, Luật Trẻ em * chàm sóc và nàm 2016 giáo dục trẻ em năm 1991 Hình 1.2: Quá trình phát triên pháp luật vê trẻ em ở Việt Nam A.
Từ Pháp lệnh về Bảo vệ, chàm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979 đến trước Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 Trong điều kiện đất nước vừa thống nhất năm 1975, sự kiện lịch sử có ý nghĩa trọng đại là tổ chức thành công cuộc Tông tuyển cử bầu Quốc hội chung của cả nước - Quốc hội khoá Vĩ. Quốc hội đã quyết định những vấn đề quan trọng hàng đầu trong thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Tại kỳ họp, Quốc hội khoá VI đã 19 thông qua Hiên pháp năm 1980, 01 Luật và 04 Pháp lệnh trong đó có Pháp lệnh vê Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Tại thời điểm nhà nước ban hành Pháp lệnh về Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1979, Công ước về quyền trẻ em vẫn chưa ra đời mà chỉ mới được Liên Hợp quốc nhất trí soạn thảo.
Qua đó, có thể thấy Đảng và Nhà nước ta đà quan tâm đặc biệt đến công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em nói chung và chăm sóc thay thế nói riêng trong thời bình, hướng tới mục tiêu vì lợi ích tốt nhất cho sự phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức của trẻ em. Trong phần mở đầu của Pháp lệnh có viết: “Trẻ em là nguồn hạnh phúc của gia đình, là tương lai của đất nước, là lớp người sẽ tiếp tục sự nghiệp của tổ tiên, gánh vác mọi công việc xây dựng và bào vệ Tồ quốc xã hội chủ nghĩa”. Ke thừa tinh thần đó, tại chương 2 của Pháp lệnh quy định về các quyền cơ bản của trẻ em, trong đó quyền đầu tiên là quyền được chăm sóc nuôi dưỡng, cụ thế tại Điều 5: “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng. Gia đình, Nhà nước và xã hội phải hợp sức chăm lo, phấn đấu, tạo những điều kiện tốt nhất để việc chăm sóc, nuôi dưỡng đó ngày càng chu đáo.
Nhà nước, công đoàn, hợp tác xã và các tố chức xã hội khác có kế hoạch sản xuất và phân phối, bảo đảm cho các em được hưởng phần lương thực, thực phẩm, vải mặc quy định cho từng lứa tuồi”, và tại Điều 9: “Con các liệt sĩ, trẻ em mồ côi không có người thân thích trông nom được Nhà nước và xã hội quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Trẻ em tàn tật được chăm sóc, điều trị và được dạy những nghề thích hợp” [26]. Pháp lệnh chưa đề cập đến khái niệm chăm sóc thay thế cũng như chưa quy định chăm sóc thay thế là một quyền độc lập với quyền được chăm sóc nuôi dưỡng. Sau Pháp lệnh, Chính phủ ban hành Nghị định số 293-CP ngày 04 tháng 07 năm 1981 về việc thi hành Pháp lệnh ngày 14/11/1979 về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trong đó có quy định chi tiết Điều 9 của pháp lệnh 1979, cụ thể tại Điều 13 Nghị định: “Trên cơ sở điều tra tình hình trẻ em là con liệt sĩ, trẻ em mồ côi, Bộ Thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan chỉ đạo các cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã và các đoàn thế nhân dân xây dựng và mở rộng mạng lưới cơ sở nuôi dạy trẻ để dần dần thu nhận hết các 20 trẻ em là con liệt sĩ, các trẻ em mô côi không nơi nương tựa.
Trẻ em là con liệt sĩ được ưu tiên nhận vào các nhà trẻ, các lớp mẫu giáo và các trường học” [1]. Sau đó, Chỉ thị số 102/CT ngày 27 tháng 4 năm 1989 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là cơ sở pháp lý để các địa phương thành lập các ban về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, cụ thể hóa kế hoạch, chương trình chăm sóc, bảo vệ trẻ em phù hợp với tình hình địa phương theo tinh thần chỉ thị đề ra. Mặc dù Pháp lệnh chưa có những quy định cụ thể về chăm sóc thay thế nhưng những quy định tại Điều 5, Điều 9 phần nào đã thể hiện được quyền được chăm sóc của trẻ em nói chung cũng như tạo tiền đề cho quyền được chăm sóc thay thế được ghi nhận trong các vãn bản luật về sau. Giai đoạn này là thời kỳ hồi phục vết thương sau chiến tranh, do đó nội dung điều chỉnh của pháp luật hướng nhiều tới mục tiêu giáo dục trẻ em và bảo đảm thực hiện các quyền về chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khoe; con các liệt sỹ, trẻ em mồ côi không có người thân thích trông nom được nhà nước và xã hội chăm nuôi và giáo dục.
Từ Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991 đến trước Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 Sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em của Liên Hợp quốc, và chưa đầy một năm sau nước ta đã ban hành Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 1991. Luật đã ghi nhận quyền được chăm sóc mà không bị phân biệt đối xử của trẻ giữa gái, trai, giữa con trong giá thú và ngoài giá thú, con đẻ, con nuôi, con riêng, con chung; không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội, chính kiến của cha mẹ hoặc của người nuôi dưỡng, đều được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, được hưởng các quyền theo quy định của pháp luật. Đồng thời quy định việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, nhà nước tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước góp phần vào sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em [14]. Cụ thể: 21 Điêu 6: - Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dạy để phát triển thể chất, trí tuệ và đạo đức.
- Trẻ em dân tộc thiều số, trẻ em ở vùng cao, hải đảo, vùng xa xôi hẻo lánh, được Nhà nước tạo điều kiện trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.