CHƯƠNG 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG TỐ TỤNG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 1. Khái quát việc bảo đăm quyên của phụ nữ trong tô tụng hôn nhân và gia đình 1. Khái niệm quyền của phụ nữ Quyền con người là quyền thiêng liêng của mồi cá nhân. Đó là các quyền tất yếu mà con người phải được hưởng và các quốc gia đều phải tôn trọng.
Trong quyền con người, quyền phụ nữ là một trong những nội dung cơ bản. Đe tiếp cận khái niệm về quyền phụ nữ, chúng ta không thể tách rời nghiên cứu khái niệm về quyền con người. * Khái niệm quyền con người Quyền con người là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, trong các văn bàn pháp luật quốc tế cũng như pháp luật quốc gia chưa có một định nghĩa chính thức về quyền con người mà chỉ dừng lại ở việc liệt kê các quyền con người.
Chính vì vậy, các nhà nghiên cứu về nhân quyền và luật học đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đưa ra định nghĩa về quyền con người. Theo một tài liệu thống kê của Liên hợp quốc, có đến gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố, tuy nhiên chưa một định nghĩa nào bao hàm được tất cả thuộc tính của quyền con người. Được biết đến nhiều nhất là khái niệm quyền con người của Văn phòng cao ủy Liện hợp quốc [25]. Theo khái niệm này Quyền con người là những bâo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại hành động (action) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người.
Ngoài ra, có một khái niệm khác hay được các nhà nghiên cứu đề cập đến: ". quyền con người là những sự được 8 phép (entitlements) mà tât cả thành viên của cộng đông nhân loại không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người. Định nghĩa này phù hợp với cách hiểu thông thường về quyền con người. Ớ Việt Nam, một số chuyên gia và cơ quan nghiên cứu cũng đã đưa ra nhiều cách hiểu về quyền con người: Trung tâm nghiên cứu quyền con người của Viện Nghiên cứu khoa học xã hội đã tiếp cận khai niệm quyền con người dưới góc độ pháp lý: Quyền con người là những đặc quyền (quyền tự nhiên) của con người được pháp luật công nhận, điều chỉnh, do cá nhân con người nắm giữ trong mối liên hệ với những cá nhân con người khác; Trong Từ điển Luật học, quyền con người là "Quyền của thành viên trong xã hội loài người, quyền của tất cả mọi người, đó là nhân phâm, nhu cầu lợi ích và năng lực của con người thể che hóa trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia"', v.
Các định nghĩa trên không hoàn toàn giống nhau nhưng xét chung lại, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Quyền con người luôn có mối liên hệ gần gũi với pháp luật bởi hầu hết những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được đảm bảo đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất với tất cả mọi chủ thể trong xã hội chứ không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức. Như vậy, nhìn ở góc độ nào, quyền con người cũng được xác định là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Đó là những giá trị cao că cần được tôn trọng và bảo vệ trong xã hội và mọi giai đoạn lịch sử.
* Khái niệm quyền cùa phụ nữ Trên cơ sở khái niệm quyền con người, khái niệm quyền phụ nữ phải 9 được nghiên cứu trong môi quan hệ khăng khít với con người. Quyên phụ nữ là khái niệm dùng để chỉ quyền con người của phụ nữ. Đó là những quyền tất yếu, không bị tước bỏ bởi bất cứ ai, bất cứ chính thể nào. Là quyền con người cụ thế, quyền phụ nữ cũng hàm chứa những đặc tính cơ bàn của quyền con người đó là tính phố quát, tính đặc thù và tính giai cấp.
Tuy nhiên, người phụ nữ với những đặc điểm gắn liền với giới tính tự nhiên thì ngoài quyền con người nói chung, họ còn có những quyền gan liền với thiên chức của mình như quyền làm mẹ, quyền được bảo vệ với tư cách là nhóm người dễ bị tốn thương. Do đó việc xác định và ghi nhận các quyền con người cho họ đặc biệt và bảo đăm trên cơ sở tiêu chí bình đẳng cần thiết. Dưới góc độ pháp lý, quyền phụ nữ còn được hiểu là: tập hợp những khả năng pháp luật mỗi quốc gia công nhận cho người phụ nữ được hưởng, được làm và được đòi hởi. Khi tiếp cận khái niệm quyền của phụ nữ, quyền con người được hiểu theo nghĩa xác định hơn, nó phản ánh những quyền cụ thể của một đối tượng cụ thể.
Quyền của phụ nữ được quy định trong pháp luật luôn có sự xem xét những yếu tố về tâm sinh lý của giới nữ, quan điểm về thuần phong mỹ tục, về văn hoá của một dân tộc đế xây dựng nên một khung quy tắc về hành vi ứng xử quan hệ giao tiếp giữa người nam và nữ, sao cho vừa thể hiện lối sống bình đẳng, văn minh đẳng văn minh đồng thời vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, tránh xảy ra sự xung đột và biến đối xã hội gay gắt. Do đó quyền của phụ nữ không chỉ được hiểu đơn thuần như quyền con người nhưng cũng không thể tách rời quyền con người. Xuất phát từ thực tế thực hiện các quyền của phụ nữ hiện nay mà cuộc đấu tranh cho quyền con người nói chung còn nhiều khó khăn, đòi hỏi phải cỏ sự phát huy sức mạnh và sự phối hợp trách nhiệm của cả cộng đồng. Đã có nhiều văn kiện quốc tế về quyền con người nhưng quyền của phụ nữ vẫn là mục tiêu phấn đấu của không chỉ mỗi quốc gia mà còn của cá nhân loại.
Mồi 10 quốc gia sẽ xây dựng những quy phạm pháp luật riêng để bảo vệ quyền cho phụ nữ. Có như vậy người phụ nữ mới thực sự được bình đẳng, được bảo vệ và có điều kiện phát triển. * Tại sao phải quan tâm và đảm bảo quyền của phụ nữ? Phụ nữ thuộc nhóm yếu thế trong xã hội và cần được bảo vệ. Hiện nay, ở nước ta, phụ nữ chiếm 51,8 % dân số và 52% lực lượng lao động, ở nông thôn họ là lực lượng lao động chủ yếu chiếm khoảng 70% và làm ra 60% sản phẩm nông nghiệp [3].
Tính ưu việt sinh học ở nữ thường chiếm 51% so với 49% ở nam giới, cơ the nữ giới có sự bền vững về sinh học hơn nam giới [29]. Trong 30 điểm khác nhau giữa hai giới, có những điểm phụ nữ có ưu thể hơn nam giới như: bé gái sinh ra thường khoẻ mạnh và có sức đề kháng hơn bé trai, tuổi thọ trung bình của nam ít hơn nữ từ 4-10 năm, cơ thể nữ sản sinh nhiều kháng thể hơn nam nên ít bị bệnh do vi trùng, vi khuẩn gây nên. Tuy vậy, cũng về mặt sinh học, phụ nữ lại có những mặt không thuận lợi, như chiều cao trung bình 150,9 cm so với nam là 160,8 cm, sức khoẻ yểu hơn, tỷ lệ phụ nữ mắc một số bệnh nhiều hơn nam giới. Cũng từ góc độ sinh học, phụ nữ chịu những tác động của môi trường nhiều hơn so với nam giới.
Phụ nữ dễ bộc lộ tình cảm âu lo hơn gấp hai lần. Tỷ lệ nhiễm HIV giữa nam và nữ cũng cho thấy: xu hướng nam giảm, nữ tăng, do cấu tạo sinh học, nguy cơ bị nhiễm ở nữ cũng cao hơn nam giới. Một khi H1V đã xâm nhập vào gia đình thì người phụ nữ bị tổn thương, khổ cực và tai tiếng nhất. Thiên chức sinh đẻ, nuôi dưỡng, giáo dục con cái, bảo tồn và phát triền nòi giống vừa là nhiệm vụ cực nhọc song lại là nguồn hạnh phúc của người phụ nữ.
Đức hy sinh, khiêm tốn, bao dung là một trong những thuộc tính của phụ nữ. Đức hy sinh đó đôi khi cũng làm hạn chế khả năng sáng tạo của phụ nữ, họ sẵn sàng lùi bước cho nam giới. Họ bị ràng buộc bởi bổn phận với chồng, con cái đến mức khó có lý do để nổi nóng hơn gấp ba lần nam giới. 11 Suôt chiêu dài lịch sử hình thành và phát triên của dân tộc, vị thê, vai trò của phụ nữ Việt Nam ngày càng được cải thiện, nâng cao.
Hệ thống pháp luật quốc gia với rất nhiều nỗ lực, song vẫn chưa đủ khả năng để hạn chế, khắc phục những khó khăn, vất vả đời thường và những vi phạm, mặc cảm đối với phụ nữ. Tư tưởng trọng nam khinh nữ cũng dẫn đến sự tự ti an phận của phụ nữ và trờ thành những vật cản trên bước đường phấn đấu của họ. An phận vốn là một tâm lý tích tụ, làm cản trở sự tiến bộ của phụ nữ, kể cả ở nữ trí thức với những biểu hiện như: tâm lý ngại sự thay đổi, ngại phấn đấu, bằng lòng với những gì đang có. Vị thế người phụ nữ vốn được xác lập trong thời kỳ mẫu hệ.
Khi những điều kiện kinh tế thay đổi, vai trò của người đàn ông được đề cao, chế độ mẫu hệ tan rã. Trong cuộc chiến giành quyền giữa hai giới, đàn ông luôn luôn chiếm ưu thế hơn, họ được chở che bởi hàng rào tập tục, tôn giáo và pháp luật. Qua nhiều thế kỷ phụ nữ hầu như hoàn toàn lệ thuộc vào đàn ông, là tài sản của người chồng. Tuy nhiên, dường như vầng hào quang của các vị nữ thần thuở xa xưa chưa tắt hẳn, và lịch sử cũng đã và đang ghi nhận vai trò lãnh đạo quốc gia của nhiều lãnh tụ nữ có tên tuồi khắp các châu lục.
Từ cuối thế kỷ XIX, phụ nữ cùng với những cuộc cách mạng xã hội • mới dần dần xác lập • 1 được • vịt thế của mình. Sự• nhìn nhận • • nữ,X về về phụ 1 vị thế, vai trò của họ cũng đã được thay đổi.