Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VE BAO BAM QUYỀN CÓ LUẬT SƯ TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ Chai niệm bảo đảm quyền có luật sư trong hoạt động xét xử LLL Khái niệm giai đoạn vét vụ án hình swe Hiển pháp nước Công hòa 2 hội chủ nghĩa (XHCN) Viết Nam năm 2013 quy định: "Tòa én nhân dân la cơ quan xét xử của nước Công hoa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyên tư pháp"`. Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm. 2014 quy định: "Téa án nhân dén có nhiêm vu bao về công lý, bảo vệ quyển con người, quyền công dân, bảo về chế đô 24 hội chủ nghĩa, bảo vệ loi ích của Nha nước, quyền va loi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân"? ‘Theo Từ điển gii thích thuật ngữ pháp lý thông dụng, “Xét xử là hoạt đông của Tòa án tại phiên tòa để sét xử các chứng cứ và căn cử vào pháp luật, xử lý vu án bằng việc ra ban án và các quyết định của Tòa én"? Theo định nghĩa trên, xét xử không chỉ đơn giần là kiểm tra lại các tải liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố để tuyên án, ma xét xử là hoạt đông đặc biết mang tính quyền lực Nha nước, do Toa án thực hiện, nhằm giải quyết những vụ án theo quy định của pháp luật. Xét xử được thực hiện theo một trình tư vả theo những nguyên tắc nhất định để giãi quyết vụ án.
Thông qua việc xét xử moi vẫn dé của vụ án được lảm sảng tô, trên co sỡ đó Tòa án ra các quyết định cân thiết để bảo vệ quyền, lợi ich hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, bảo về ché đô Việc giải quyết một VAHS được trải qua nhiều giai đoạn tô tụng từ khởi tổ, điều tra, truy tô dén xét xử và thi hành án. XXST là một giai đoạn tổ tung trong hoạt động TTHS. Vay giai đoạn TTHS là gi? tức Nội G01 hp Hà Nội Hi3), Hi NE (ude hội G013), cổ cặc Toa snahin dẫn, “Trường Đạ học Lait Hi Nội (1990), Te din ith thuật ng nhíp ¥ thing dựng, Nb. Công nhân din, Bà Nộp g 114 10 Tir trước đến nay, trong pháp luật TTHS nước ta chưa từng có định nghĩa thé nào là "giai đoạn TTHS".
Theo GS, TSKH Lê Cảm, dưới góc độ khoa học khái niệm giai đoạn TTHS có thể được định nghĩa la Bước của qua trình tổ tụng hình sự tương tmg với chức năng nhất định trong hoạt động tư pháp hình sự của từng loại chủ thé tiến hành tổ tụng có thẩm quyên, nhằm thực hiện các nhiệm vụ cụ thể do luật định, có thời điểm ‘bat đầu vả thời điểm kết thúc, dé giải quyết vụ an hình sự một cách công minh và khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật, góp phản cũng cô pháp chế và ‘wat tự pháp luật, bảo vê vững chắc các quyển va tự do của công dân”, Mỗi giai đoạn tô tung có nhiệm vụ khác nhau, tương ứng với mỗi giai đoạn đó là chức năng cu thé của mỗi cơ quan THTT có thẩm quyển. Mỗi giai đoạn tổ tung kết thúc được đảnh dầu bằng một vén bên tô tụng khác nhau, như. giai đoạn khối tô kết thúc khi có quyết định khỏi tổ, giai đoạn điều tra kết thúc bằng bản kết luận điều tra, giai đoạn truy tô được kết thúc khi có bản cáo trang, các giai đoạn xét xử kết thúc khi có bản án, quyết định của Toa án. Tuy nhiên, các văn ban tô tung này là sự thể hiện kết qua của cã quá trình tổ tung hoàn chỉnh Trường hợp việc giải quyết vụ án được chấm dứt giữa chừng vì những lý do nhất định thì mỗi giai đoạn tô tung có thể được kết thúc bằng mốt văn bản tổ tung khác, như.
ở giai đoan khối tố vụ án có thể 1a quyết đính không khối tổ vụ án, không khối tổ bị can, 6 giai đoạn truy tổ có thé là quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của VKS, ở giai đoạn XXST có thé 1ä quyết định đính chi việc giãi quyết vu án của Tòa án. Như vay, có thể nói: Giai đoạn TTHS là Riái niêm ding đỗ chỉ các bước của quá trình giải quyết VAHS, mỗi bước có thời điểm bắt đầu và thời “điểm kết tinic riêng. mỗi bước có nhiệm vụ riêng và được thực hiện chủ yêu bởi cơ quan THTT có chức năng tương ving nhằm giải quyét VAHS. 1ê Ci 2006), Các gái đoạn ong tổ ng hàn sự, Tạp ch Toi nhân din, số 42006, B Nội u Hiệu quả hoạt đông của mối giai đoạn tổ tụng có ý nghĩa riêng trong toàn bộ quả trình tổ tung, nó có t là tiên dé cho hoạt động của giai đoạn tổ tụng sau hodc lại la sự đánh gia, kiểm chứng tính đúng đắn của hoạt đông tố tụng trong giai đoạn trước.
Giai đoạn xét xử được xác định là giai đoan quan trong nhất cia quá trình giải quyết VAHS, được coi là "hoạt đông trong tâm" của cả qua trình TTHS, bỡi lẽ ở giai đoạn xét xử, sau khi nghiên cứu khách quan, toan điên và đây đủ các tỉnh tiết của vu án, moi van dé liên quan đến vụ. án như có hành vi pham tội không, ai đã thực hiện tôi pham đó, có bị chịu hình phat không, mức phat như thé nào. được lam sáng tô trong giai đoạn xét xử. Hay có tl nói, phan quyết cuối cùng có tính quyết định đối với việc giải quyết một VAHS chủ yêu được thực hiện ở giai đoạn ét xử và bối ta án.
Nhằm mục đích xét xử đúng người, đúng tôi, áp dụng đúng pháp luật, không để lọt tội pham, không xử oan người vô tôi, BLTTHS quy định vềviệc thực hiên chế độ hai cấp xét xử là XXST vả XXPT. Tuy nhiên, không phải mọi VAHS nêu được đưa ra xét xử thi sẽ đều được xét xử ở cấp phúc thẩm, ‘bai lẽ, chỉ có những "bản án, quyết dinh sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghự" thi mới có khả năng được xét zử ở cấp phúc thấm Nói "có khả năng" vi không phải mọi ban án, quyết định sơ thẩm của Téa án có kháng cáo, kháng nghị đều đương nhiên được xem xét, giải quyết ở cấp phúc thẩm ma còn phụ thuộc nhiên yêu tổ như việc kháng cáo, kháng nghị đó do ai thực hiện, có phải do chủ thể có quyển kháng cáo, kháng nghị thực hiện không, có theo đúng tình tự, thủ tục và có trong thời hạn pháp luật cho phép không. Việc giải quyết vụ án theo trình tự giám đóc thẩm, tái thẩm cũng không phải sé được thực hiến ở mọi vụ án, vì chỉ có những bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện. cỏ vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong quá trình giai quyết hoặc có những tỉnh tiết mới được phát hiện có thé lam thay đối cơ bin nội dung của bản án hoặc quyết định mà Tòa án không biết 2 được khi ra bản án, quyết định đó thi ban án, quyết đính đó mới có thé được xem xét, giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tai thẩm Trong khi đó, XEXST là thủ tục bắt buộc đối với mơi vụ án néu được tòa án đưa ra xét xử Các thủ tục XXPT, giám đốc thẩm hay tai thẩm đối với vụ án chỉ có thể được thực hiên Khi thuộc các trường hợp như đã phân tích ở trên, nó ob thể xảy ra hoặc không xay ra.
Như vậy, có thể khẳng định, XXST có vai trò vả ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình giải quyết VAHS. Khái niệm quyên có hiật sự trong hoat động xét xử vụ án hình sạc Quyên có luật sư bào chữa của người bi tam giữ, bi can, bị cáo là một trong những quyền quan trọng nhất của người bị tam giữ, bi can, bi cáo trong quá trình tổ tung giãi quyết vu an hình sự Việc tôn trong và bảo dém thực hiên quyền có luật su bao chữa cho người bị tam giữ, bị can, bi cáo la một trong những nguyên tắc quan trọng của hoạt động tư pháp Trong giới luật gia có quan điểm cho ring “Quyên có iuật sư bào chita của bị can, bị cáo là tổng thé các quyền mà pháp luật qny dim, cho phép bị can, bị cáo có thé sứ đụng nhằm bác bö một phần hoặc toàn bộ sự buộc. Tôi và giảm nhẹ trách nhiềm hình sw’. Có quan điểm khác lại cho rằng “Quyên có luật sư bao chữa của bi can, bi cáo la tổng thé các quyền năng mà pháp luật quy đmh cho bị cam, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bi can bi cáo là người chưa thành niễn người có nhược điểm và thé chất hoặc tâm thân đễ họ sử đụng nhằm chống lat một phén hay toàn bộ sự buộc ôi, giảm nhẹ trách nhiệm hình sic bảo về các quyén và lợi ích hợp pháp của người bị tam giữ.
bị can, bị cao” Một quan điểm khác nữa lại cho rằng: “Quyên có iuật sư bào chữa là tông hợp các hành vi té tung của bị can, bị cáo trên cơ sở phh hợp với các ˆ Bỗ Ngọc Quang 2003), Giáo trần Toậttổịng hàn sự, Trường Đại học Cid sát nhân din, No Công tmnbản din, Hệ Nov 186 tổ ng hàn sr, Bio dim quyền bio dit ch bị an, bị cáo gơng ˆ Nguyễn Thị Meh Sơn C009), Tuân tin hậthọc, Trường Đạihọc Luật Ht Mộ 87 13 ny dinh của pháp luật nhằm đưa ra các chứng cứ dé bảo vệ các quyén và lợi ich hợp pháp của mình trước các co quan tiễn hành t ting” Các quan điểm. trên đều đã phan anh được nội dung của quyển có luật sư bảo chữa, nhưng. chưa day đủ ở chỗ lả chưa lam sang tỏ được từ “quyền” và cụm từ “bảo. Để có cơ sở khoa học định ngiữa về quyền có luật sư bảo chữa của bị can, bị cáo, can phải lam sáng tỏ nội dung của tử “quyên” va cum từ “bảo.
chữa", đẳng thời phải căn cử vao các quy định của pháp luật tổ tụng hình sự quy định về quyển có luật sư bảo chữa cia người bi tam giữ, bị can, bi cáo Theo Từ điển Luật học thì “quyền” được hiểu là “khát niệm pháp If để chỉ những điều mà pháp luật công nhận và bdo đảm thực hiện đối với cá. nhân tổ chúc để theo đó cá nhân tổ chức được lưởng được làm được đôi “ôi mà khong ai được ngăn cẩn, han chế "`, Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Bảo chữa là ding If và chứng cứ để bãnh vực cho đương sự nào đó thuộc vu án hình suhay dân sự trước Toà dn hoặc cho một việc làm dang bị lên an"?