Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền an sinh xã hội và bảo đảm quyền an sinh xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền an sinh xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm bảo đảm quyền an sinh xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ở Việt Nam 8 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN AN SINH XÃ HỘI VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN AN SINH XÃ HỘI TRONG VIỆC TIẾP CẬN CÁC DỊCH VỤ XÃ HỘI CƠ BẢN 1. Quan niệm về quyền an sinh xã hội và bảo đảm quyền an sinh xã hội trong việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản 1. Quyền an sinh xã hội một trong những quyền cơ bản của con ngƣời Như một lẽ tự nhiên, để tồn tại và phát triển, con người trước hết phải có cái ăn, cái mặc, có chỗ để ở. Những nhu cầu thiết yếu ấy chỉ có thể được đáp ứng khi con người biết lao động, được lao động.
Nói cách khác, lao động là điều kiện, là phương thức có ý nghĩa quyết định sự tồn tại, phát triển của con người, xã hội. Tuy nhiên, có một thực tế là không phải khi nào con người cũng có thể lao động tạo ra thu nhập. Bởi lẽ, trong cuộc sống con người luôn phải đối mặt với nhiều khó khăn, rủi ro, bất hạnh mà nguyên nhân có thể đến từ nhiều phía, như ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong; thiên tai hay rủi ro trong nghề nghiệp. Lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, cuộc sống của con người phụ thuộc nhiều vào môi trường sống tự nhiên và xã hội.
Ở đó luôn tiềm ẩn những biến động, thay đổi khó lường. Bởi vậy, để tồn tại và phát triển, con người phải luôn chủ động tìm kiếm những giải pháp khắc phục khó khăn, ứng phó với những rủi ro, bất trắc. Từ rất sớm, con người đã nghĩ tới việc “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” và ứng xử với nhau theo tinh thần “tương thân tương ái”, san sẻ, đùm bọc nhau trong khó khăn, hoạn nạn. Cùng với sự phát triển của xã hội, sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức.
Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của Nhà nước ở các chế độ xã hội khác nhau. Trong đó, an sinh xã hội được nhìn nhận như một vấn đề thiết yếu cho sự tồn tại và phát triển của con người, xã hội. 9 z Bước ngoặt lớn, đánh dấu cho sự ra đời chính thức của hệ thống an sinh xã hội đó là cuộc cách mạng công nghiệp diễn ra vào thế kỷ XIX ở các nước châu Âu. Lao động thủ công được thay thế bằng lao động máy móc,nền sản xuất thủ công dần chuyển sang nền sản xuất cơ khí.
Năng suất lao động ngày càng cao, đời sống của người ngày càng được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những thay đổi tích cực về kinh tế, văn hóa, xã hội, người lao động luôn phải đối mặt với nguy cơ mất việc làm, giảm thu nhập do tai nạn lao động, ốm đau và tuổi già. Để đối phó với những nguy cơ ngày một hiện hữu, các nghiệp đoàn đã hình thành những quỹ cứu trợ, nhằm bảo đảm ổn định xã hội và lợi ích của người lao động. Nhận rõ ích lợi của hoạt động đó, nhà nước và giới chủ đã tham gia vào việc đóng góp, hình thành và tổ chức hoạt động của các quỹ mang tính đoàn kết, tương trợ.
Đây có thể xem là cơ sở cho sự hình thành và phát triển của hệ thống an sinh xã hội. Mô hình an sinh xã hội đầu tiên trên thế giới xuất hiện ở Đức vào năm1850, sau đó bắt đầu lan dần ra châu Âu rồi sang các nước Mỹ Latinh, Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, an sinh xã hội đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi, vùng Caribe. Thuật ngữ An sinh xã hội lần lượt được ghi nhận trong nhiều văn bản, đạo luật khác nhau.
Đạo luật đầu tiên về An sinh xã hội trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ở Mỹ. Theo đó, an sinh xã hội “…là sự bảo đảm nhằm bảo tồn nhân cách cùng những giá trị cá nhân đồng thời tạo lập cho mỗi con người một đời sống sung mãn và hữu ích để phát triển tài năng đến tột độ”. Tiếp đến, Hiến chương Đại Tây Dương (1941) cũng chính thức sử dụng thuật ngữ “An sinh xã hội”. Trong bản Hiến chương này, an sinh xã hội được hiểu theo nghĩa rất rộng, đó là: “Sự bảo đảm thực hiện quyền con người sống trong hoà bình, được tự do làm ăn cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ của pháp luật, được bảo vệ bình đẳng trước pháp luật, được học tập, làm việc, 10 z nghỉ ngơi, có nhà ở, được chăm sóc y tế và bảo đảm thu nhập để có thể thỏa mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, thai sản, ốm đau, tuổi già.
Trong cuốn sách “Giới thiệu về an sinh xã hội” do Tổ chức lao động quốc tế xuất bản tại Genever năm 1992, khái niệm về an sinh xã hội được xác định: “.là sự bảo đảm thực hiện quyền con người được sống trong hoà bình, được học tập, được làm việc và nghỉ ngơi, được chăm sóc y tế và bảo đảm thu nhập” Tại Hội nghị trù bị về “an sinh xã hội ASEAN” tháng 6/2001 ở Singapore, các nhà khoa học cũng đã đưa ra một khái niệm tương đối rộng về an sinh xã hội. Hệ thống an sinh xã hội bao gồm: Bảo hiểm xã hội và tiết kiệm; Bảo hiểm tai nạn công nghiệp, y tế, người già, thất nghiệp. Đó là hệ thống có sự tham gia đóng góp của các bên tạo nguồn dự trữ để sử dụng cho các trường hợp tuổi già, ốm đau, thai sản, chết, tàn tật, thương tật, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp; Trợ giúp xã hội và những dịch vụ xã hội (trợ cấp). Đó là loại phúc lợi xã hội trích từ thuế và các nhà tài trợ và chính sách thị trường lao động (bao gồm cả thị trường lao động tích cực và thụ động); tạo cơ hội việc làm, hình thành nguồn nhân lực, phát triển kỹ năng nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm (thông tin, giới thiệu việc làm; đào tạo lại; hỗ trợ việc làm).
Qua các khái niệm trên, có thể thấy an sinh xã hội có đối tượng áp dụng rộng lớn, bao gồm toàn bộ thành viên xã hội. Không nên xem an sinh xã hội đơn thuần chỉ là giá trị về tiền bạc, mà phải xem đó là sự đầu tư cho con người, lấy con người làm trọng tâm, nhằm mục tiêu nâng cao sức lao động, hướng tới một nền sản xuất hiệu quả. Nói một cách cụ thể hơn, nội dung của an sinh xã hội chính là sự bảo vệ của xã hội được thực hiện thông qua một loạt các biện pháp công cộng tiến hành bởi Nhà nước, tổ chức, cá nhân. dưới hình thức tương trợ bằng tiền, hiện vật, phương tiện.
nhằm mục đích chống lại những túng quẫn về kinh tế, những khó khăn về mặt xã hội của người dân khi gặp phải những biến cố, rủi ro góp phần đảm bảo cuộc sống con người và cao hơn thế là đảm bảo an toàn chung cho toàn xã hội. 11 z Ở Việt Nam, hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về an sinh xã hội. Do được dịch từ nhiều thứ tiếng khác nhau nên có nhiều cách gọi khác nhau cho nội dung này như: “An ninh xã hội”, “An toàn xã hội”, “Bảo trợ xã hội”. Tuy nhiên, đến nay, hầu hết các nhà khoa học đều thống nhất sử dụng cụm từ “an sinh xã hội” xuất phát từ cụm từ “Social security” mà ILO ghi nhận.
Về nội hàm của “an sinh xã hội”, trong một công trình nghiên cứu của mình, PGS.TS Đỗ Minh Cương cho rằng an sinh xã hội “…là sự bảo vệ của xã hội đối với những thành viên của mình, trước hết là trong những trường hợp túng thiếu về kinh tế và xã hội, bị mất hoặc giảm sút thu nhập đáng kể do gặp những rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tàn tật, mất việc làm, mất người nuôi dưỡng, nghỉ do thai sản, về già, trong các trường hợp thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn. Đồng thời xã hội cũng ưu đãi những thành viên của mình đã xả thân vì nước, vì dân, có những cống hiến đặc biệt cho cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Mặt khác cũng cứu vớt những thành viên lầm lỗi mắc vào tệ nạn xã hội nhằm phối hợp chặt chẽ với các chính sách xã hội khác đạt tới mục đích dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh”[25, tr18]. Tiếp cận dưới góc độ rộng hơn, GS.Tương Lai cho rằng “An sinh xã hội là một lĩnh vực rộng lớn, không chỉ bao hàm sự bảo vệ của xã hội đối với mọi người khi gặp phải thiếu thốn về kinh tế mà còn đảm bảo về môi trường thuận lợi để giúp mọi người phát triển về giáo dục, văn hóa nhằm nâng cao trình độ dân trí, học vấn.
Có thể thấy, các khái niệm này đều xác định được những nội dung cơ bản của an sinh xã hội song do được tiếp cận từ những góc độc khác nhau nên chỉ phù hợp với những giới hạn nhất định. Ở đây, chúng tôi đồng tình với quan điểm của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu trong bài viết “Một số vấn đề lý luận về an sinh xã hội”, theo đó: “an sinh xã hội là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng đối với những người “yếu thế” trong xã hội bằng các biện pháp khác nhau nhằm hỗ trợ cho các đối tượng khi họ bị suy giảm khả năng lao động, giảm sút thu nhập hoặc là bị 12 z rủi ro, bất hạnh, hoặc là trong tình trạng nghèo đói, hoặc là ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, mất sức lao động, già yếu.động viên, khuyến khích tự lực vươn lên giải quyết vấn đề của chính họ.” Nói cách khác, mục đích sâu xa của an sinh xã hội là góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho công dân trong xã hội với phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng, nhằm tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên, thể hiện ý nghĩa xã hội và tính nhân văn sâu sắc.