mở đầu và kết thúc. Đơn vị cung cấp nội dung là cơ quan báo chí có giấy phép hoạt động phát thanh, truyền hình tại Việt Nam sở hữu bản quyền hoặc có thỏa thuận bản quyền hợp pháp đối với nội dung thông tin cung cấp trên dịch vụ phát thanh, truyền hình. Nội dung theo yêu cầu là các chương trình phát thanh, truyền hình, phim và các nội dung có hình ảnh hoặc âm thanh trong nước, nước ngoài khác đã đáp ứng các quy định chuyên ngành của pháp luật Việt Nam được cung cấp đến thuê bao theo yêu cầu, gồm cả nội dung trực tiếp theo lịch chương trình. 16 Chương trình trong nước là chương trình phát thanh, truyền hình do cơ quan, tô chức của Việt Nam sản xuất hoặc liên kết sản xuất theo quy định của pháp luật.
Chương trình nước ngoài là chương trình phát thanh, truyền hình do cơ quan, tô chức của nước ngoài sản xuất, có ngôn ngữ thể hiện bằng tiếng nước ngoài. Truyền hình theo yêu cầu là hệ thông truyền hình cho phép người dùng có thể lựa chọn nội dung video mình muốn xem qua tivi hoặc máy tính. Hệ thống này cung cap cho người xem menu có sẵn các video dé người xem có thể tự lựa chọn video mình muốn xem, chắng hạn như phim và các shows truyền hình, trực tiếp cung cấp cho khách hàng cá nhân để họ có thể xem được ngay lập tức, không cần phải tuân theo một lịch phát sóng cụ thể có định. Truyền hình tương tác là một dang truyền hình cho phép người xem tham gia, điều khiển các chương trình truyền hình.
Với dang truyền hình truyền thống, đường truyền truyền hình là một chiều. Các nhà đài cho phép khán giả xem gì, vào giờ nào, trên kênh nào là quyền của họ. Với truyền hình tương tác, khán giả được trực tiếp tham gia vào chương trình đang phát sóng. Khán giả ở đây là những người đang xem TV chứ không phải là những người trong trường quay.
Khái niệm về truyền hình trên nền tảng internet (OTT) Nghị định 06/2016/NĐ-CP về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, truyền hình số do Thủ tướng phê duyệt, có ghi rõ: “Dịch vụ phát thanh, truyền hình trên mạng internet là loại hình phát thanh, truyền hình sử dụng kết nối mạng internet thông qua các địa chỉ tên miền của trang thông tin điện tử hoặc các địa chỉ Internet xác định do Việt Nam quản lý dé truyén tải các kênh chương trình phát thanh, truyền hình đến người sử dụng dịch vụ” [17].Trong đó, các đối tượng chính dé tạo ra dịch vụ truyền hình gồm: các don vị cung cấp và người sử dụng dịch vụ cũng được nghị định giải thích chỉ tiết. 17 Truyền hình trên nền tảng internet hay còn gọi là truyền hình OTT (tiếng Anh: Over-the-top) là thuật ngữ để chỉ các ứng dụng và các nội dung như âm thanh, video, truyền hình trực tuyến, phát thanh trực tuyến được cung cấp trên nên tảng internet theo yêu cầu của người sử dụng vào bat kì thời điểm nào và tại bất cứ nơi đâu chỉ với một thiết bị phù hợp có kết nối internet. Các nhà cung cấp dịch vu internet ISP) có thể nhận biết được sự tồn tại của những nội dung OTT này thông qua các gói dữ liệu nhưng không thể kiểm soát được nội dung bên trong và không chịu trách nhiệm về chúng (chi phí, bản quyền, v. Điều này trái ngược với các dịch vụ tính phí trước đây, chăng hạn xem truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh phải trả tiền cho nhà cung cấp tín hiệu truyền hình hoặc xem IPTV (như MyTV) phải thanh toán cho nhà cung cấp dịch vụ internet, gọi điện thoại, nhắn tin phải trả cước cho nhà mạng.
Liên quan đến truyền hình trên nền tảng internet cần nhắc đến các khái niệm sau: Hạ tang viễn thông: Theo Luật Viễn thông năm 2009, cơ sở hạ tầng viễn thông là tập hợp thiết bị viễn thông, đường truyền dẫn, mạng viễn thông và công trình viễn thông. Ha tang mạng viễn thông là tập hợp các thiết bị viễn thông được liên kết với nhau bằng các đường truyền dẫn để cung cấp các dịch vụ cơ bản (dịch vụ nhăn tin, dich vụ thoại, dịch vu dữ liệu, v.), các dịch vụ giá trỊ gia tăng và các ứng dụng số khác đến người tiêu dùng. Một mạng viễn thông tiêu chuẩn được phân thành các lớp truy nhập, lớp lõi, lớp ứng dụng và thiết bị truyền dẫn kết nối các lớp [11]. Kênh phân phối: Đề cập đến mạng được sử dụng dé nhận sản phẩm từ nhà sản xuất hoặc người tạo ra nó và mục đích cuối là đưa đến người sử dụng.
Khi kênh phân phối là “trực tiếp” (kênh bán hàng trực tiếp), nhà sản xuất bán trực tiếp cho người dùng mà không thông qua bên trung gian. Khi kênh phân phối là “gián tiếp”, sản phẩm sẽ thay đổi vài lần trước khi tiếp cận đến người tiêu dùng. 18 Nhà mạng di động hay nhà điều hành mạng di động (tiếng Anh: Mobile network operator) là một công ty viễn thông cung cấp dịch vụ viễn thông cho người dùng điện thoại di động đã trả phí. Nhà mạng di động có quyền sở hữu hoặc kiểm soát các thành phần cần thiết để cung cấp các dịch vụ viễn thông bao gồm: băng tần, hạ tầng mạng viễn thông, hạ tầng back haul, hệ thống máy tính và bảo trì, các dịch vụ thanh toán và chăm sóc khách hàng.
Quy trình để trở thành một nhà mạng tại một quốc gia thường bắt đầu bằng việc xin cấp băng tan từ chính quyên. Băng tần này sẽ quyết định loại điện thoại di động sẽ được sử dụng. Tiếp sau đó, nhà mạng di động phải tiến hành xây dựng hạ tầng mạng cho băng tan được cấp phép dé có thé cung cấp dich vu cho các thuê bao/ người dùng. Thiết bị tương thích: Giúp cho OTT đã được tương thích với rất nhiều thiết bị, bất kỳ tài khoản nào cũng có thể đăng nhập và trải nghiệm OTT, từ máy chơi game, điện thoại thông minh, máy tính bảng hoặc TV thông minh.
Dịch vụ nội dung thông tin số được định nghĩa tại Khoản 12 Điều 3 Nghị định 71/2007/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin như sau: “Dịch vụ nội dung thông tin số là dịch vụ được cung cấp trên môi trường mạng hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, khai thác, phát hành, nâng cấp, bảo hành, bảo trì sản phẩm nội dung thông tin số và các hoạt động tương tự khác liên quan đến nội dung thông tin số” [15]. Vào năm 1994, dai ABC noi tiếng của Mỹ đã sử dung phần mềm CU- SeeMe videoconferencing dé phát sóng chương trình ABC's World News Now trên mạng internet. Đây được coi là bước đi tiên phong, dé ngay sau đó các đài truyền hình trên thế giới dành sự quan tâm cho ứng dụng công nghệ tiên tiễn hiện đại bậc nhất lúc bấy giờ. Vào tháng 1 năm 1998, Mark Cuban - một trong những tỷ phú khởi nghiệp đầu tiên của thập niên 90 đã thành lập công ty AudioNet và mở ra một dich vụ cho phép người nghe radio trên mang internet.
Công ty này hoạt động với hình thức ký kết hợp đồng thỏa thuận cùng các dai 19 phát thanh nổi tiếng trên khắp nước Mỹ dé bán nội dung của họ trên dịch vụ của AudioNet cho khán giả khắp thế giới. Sau này khi AudioNet lên sàn chứng khoán, đã đổi tên thành Broadcass và chứng kiến giá cổ phiếu tăng vọt từ 18USD/cô phiếu lên 62,75 USD/cé phiếu chỉ trong 1 ngày. Vào tháng 9 năm 1999, sau khi thử nghiệm nhiều kênh truyền hình có phát sóng các chương trình video theo yêu cầu thì Kingston Communications - đơn vị viễn thông hàng đầu Anh Quốc đã cho ra mắt KIT (Kingston interactive Television) - dịch vu truyén hình tương tac Kingston trên nền tang internet. Sau đó đến thang 10 năm 2001, Kingston tiếp tục cho ra mat YesTV là dich vụ chuyên cung cấp các video theo yêu cầu - VOD.
Kingston được nhận định là một trong những đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình internet đầu tiên trên thế giới. Mặc dù trong những năm 2010, thị trường truyền hình này còn rất sơ khai, với Netflix là đơn vị duy nhất cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, đến những năm 2019, truyền hình OTT trở thành một dịch vụ tiềm năng khi có rất nhiều những tập đoàn công nghệ lớn bắt đầu gia nhập, tiêu biểu như Apple, Disney, và WarnerMedia. Ra đời từ cách đây hơn một thập ky và nhờ sự phổ biến của mang băng rộng với tốc độ kết nỗi ngày càng nhanh hơn, đã trở thành nền tảng giúp truyền hình internet OTT có bước phát triển mạnh mẽ.
Truyền hình OTT đã mang lại cho người dùng trải nghiệm xem truyền hình có tính tương tác và cá nhân hóa rất cao. Các dịch vụ của truyền hình OTT trên thế giới và tại Việt Nam cho phép người dùng có thể xem các bộ phim, chương trình ca nhạc, bóng da. bat cứ lúc nào mình muốn thay vì phải xem vào một thời gian phát sóng cô định cụ thể như truyền hình truyền thống. Khán giả cũng có thể tạm dừng, lùi lại chương trình truyền hình, phim đang xem, lưu và xem lại các chương trình truyền hình hấp dẫn theo ý muốn hay xem 2 kênh truyền hình cùng 1 lúc.
Vì những thuận lợi này nên truyền hình OTT thăng thế hơn hắn so với các loại hình truyền hình truyền thống. 20 Bên cạnh đó, với thế mạnh về hệ thống mạng Internet kết nối tới từng hộ gia đình, cùng nền tảng công nghệ vững chắc, việc đơn vị phát triển truyền hình là xu thé tất yếu dé khai thác thêm nhiều cơ hội sắp tới. Day cũng là hướng đi được Chính phủ chú trọng trong lộ trình đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về Công nghệ thông tin về sau. Khát quát về đặc điểm và vai trò của truyền hình trên nền tảng internet 1.
Đặc điểm của truyền hình internet i. Những đặc điểm về kỹ thuật Truyền hình internet hình thành trên công nghệ truy cập IP cho phép các nhà cung cấp dịch vụ chỉ cần phát các kênh mà đối tượng sử dụng yêu cầu. Trong đó, trung tâm của hệ thống sử dụng một bộ mã hóa (Streaming Encoder - ViaMotion Streamer) có chức năng mã hóa tín hiệu từ các nguồn khác nhau (camera, đầu thu, v.) tạo thành các dòng truyền tải trên nền IP. Tại phía thu, người sử dụng sẽ dùng một bộ thu (STB) để giải mã dòng truyền tải này và hiển thị lên màn hình (TV, PC).
Do đặc điểm của hệ thống đáp ứng đa định dạng, so với IPTV, hệ thống OTT có thêm các server đóng gói và format định dạng phía sau Encoder.