Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của báo chí đối với sự nghiệp bảo vệ biên giới - Chương 2: Thực trạng công tác tuyên truyền về sự nghiệp bảo vệ biên giới trên báo chí Biên phòng - Chương 3: Thành công, hạn chế và một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền về sự nghiệp bảo vệ biên giới trên báo chí Biên phòng. 10 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÕ CỦA BÁO CHÍ VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ BIÊN GIỚI 1. Một số khái niệm 1. Tuyên truyền “Tuyên” là nói, “truyền” là loang ra.
Theo Từ điển tiếng Việt thì “tuyên truyền” là phổ biến, giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo [60, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền bị thất bại” [36, tr. Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là hoạt động có mục đích của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra.
Tuyên truyền là một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng. Khi xem xét công tác tư tưởng như một quá trình liên tục. Lênin khẳng định công tác tư tưởng có 3 hình thái: “Công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động. Ba hình thái đó tương ứng với các quá trình tư tưởng gồm: Sản xuất ra hệ tư tưởng, phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng; cổ vũ, động viên quần chúng thực hiện” [35, tr.
Công tác tuyên truyền là hoạt động tiếp nối công tác lý luận, nhằm phổ biến, truyền bá các nguyên lý lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách và quần chúng. Mục đích cao nhất của tuyên truyền là làm cho hệ tư tưởng chiếm địa vị thống trị trong xã hội. “Công tác tuyên truyền phải chân thực; cần nói rõ cho nhân dân hiểu sự thật, những việc làm được và những việc làm chưa được, thuận lợi và khó khăn, thành tích và khuyết điểm…” [20, tr. Nội dung chủ yếu của công tác tuyên truyền: Tuyên truyền chính trị: Là nội dung chủ yếu của công tác tuyên truyền.
Tuyên truyền chính trị tập trung vào việc phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng của 11 z Đảng, bao gồm: Tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tuyên truyền về quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền về truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc của Đảng qua các hoạt động kỷ niệm, các đợt vận động chính trị lớn của đất nước và địa phương. Tuyên truyền về kinh tế: Nhằm thực hiện đường lối phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay. Nội dung chủ yếu của tuyên truyền kinh tế là: Tuyên truyền về đường lối phát triển kinh tế của Đảng, các chính sách, kế hoạch, chương trình kinh tế lớn của Nhà nước; tuyên truyền về những thành tựu kinh tế - xã hội, tiềm năng phát triển của đất nước, địa phương, những thuận lợi và khó khăn, những bài học kinh nghiệm trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ của địa phương từng thời kỳ. Tuyên truyền văn hóa: Nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm nền tảng tinh thần của xã hội nắm chặt với nhiệm vụ kinh tế và xây dựng Đảng.
Tuyên truyền quốc phòng - an ninh: Nội dung chủ yếu là tuyên truyền về đường lối, quan điểm xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay; tuyên truyền về những truyền thống đấu tranh anh dũng của dân tộc, tự hào về những chiến công hiển hách trong đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập; tuyên truyền về những chủ trương, giải pháp xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại; tuyên truyền về các văn bản pháp luật của Nhà nước về các nghĩa vụ của công dân tham gia quân đội, quân đội tự vệ, giáo dục quốc phòng. Tuyên truyền đối ngoại: Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, tuyên truyền đối ngoại có vai trò quan trọng trong thực hiện đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, Nhà nước. 12 z Đấu tranh chống các quan điểm, luận điểm sai trái: Trong điều kiện phong trào cách mạng thế giới tạm lâm vào tình trạng thoái trào, tuyên truyền để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng càng trở nên quan trọng và cần thiết. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, công tác tuyên truyền là công cụ quan trọng để tạo ra lực lượng hùng mạnh cho cách mạng nên Người rất quan tâm đến việc làm tốt công tác tuyên truyền.
Muốn phát huy được sức mạnh tổng hợp của toàn dân thì công tác tuyên truyền cần chú trọng đối tượng tuyên truyền. Cán bộ tuyên truyền cần xác định rõ nội dung, đối tượng, mục đích và phương pháp như: Tuyên truyền cái gì? Tuyên truyền cho ai? Tuyên truyền để làm gì? Tuyên truyền cách thế nào? Như vậy, tuyên truyền là một trong những bộ phận quan trọng của công tác tư tưởng, có nhiệm vụ phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến quần chúng nhân dân. Tuyên truyền gắn liền với cổ động, nên tuyên truyền còn là sự cổ vũ, động viên, thúc đẩy quần chúng hăng hái tham gia các phong trào, biến nhận thức, niềm tin thành nhiệt huyết của đại chúng, hình thành cách mạng. Tuyên truyền góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, hình thành và củng cố niềm tin, giáo dục lý luận, đạo đức, lối sống, lẽ sống; bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Biên giới, biên giới quốc gia Biên giới là cửa ngõ, là tuyến đầu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nơi thực hiện giao lưu và hợp tác quốc tế. Vùng biên giới có tài nguyên phong phú, có nhiều khả năng phát triển công nghiệp, lâm nghiệp, nông nghiệp, du lịch và dịch vụ, do đó, vùng biên giới có vị trí chiến lược cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quốc gia là một khái niệm địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp lý, để chỉ một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và những con người của dân tộc trên lãnh thổ đó; họ gắn bó với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập quốc, 13 z và những con người chấp nhận nền văn hóa cũng như lịch sử lập quốc của đó chịu sự chi phối của chính quyền, họ cùng nhau chia sẻ quá khứ cũng như hiện tại và xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền. Biên giới quốc gia theo Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa “là đường và mặt phẳng thẳng đứng đi qua đường đó, xác định giới hạn lãnh thổ của một quốc gia trên đất liền, vùng nước, vùng trời và dưới lòng đất” [64, tr.
Biên giới quốc gia trên đất liền là đường biên giới được xác định trên bộ, trên đảo, trên sông, trên hồ và biển nội địa. Biên giới trên bộ thường được ấn định bằng việc ký kết điều ước quốc tế và biên giới hoặc lãnh thổ giữa các quốc gia có chung đường biên giới. Biên giới quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các tọa độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam được xác định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Các đường ranh giới phía ngoài vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan.
Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống lòng đất. Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan. Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời [9]. 14 z Còn Luật Biên giới quốc gia định nghĩa: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [49, tr.
Khu vực biên giới là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia có chính diện, chiều sâu và tiếp liền với đường biên giới quốc gia; khu vực biên giới có chế độ pháp lý riêng do Chính phủ ban hành nhằm bảo vệ an toàn biên giới. Tùy thuộc vào vị trí địa lý lãnh thổ quốc gia mà Chính phủ ban hành quy chế: Khu biên giới đất liền, khu vực biên giới biển và khu vực biên giới trên không. Theo Nghị định 34/2000/NĐ-CP, ngày 18/8/2000 của Chính phủ về quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì: “Khu vực biên giới đất liền nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sau đây gọi tắt là khu vực biên giới) bao gồm các xã, phường, thị trấn có địa giới hành chính tiếp giáp với đường biên giới quốc gia trên đất liền.