Mở đầu: trang 1 đến trang 3 Phần 2: Tổng quan: từ trang 4 đến trang 27. Phần 3: Vật liệu và phương pháp: từ trang 28 đến trang 41. Phần 4: Kết quả và bàn luận: từ trang 42 đến trang 76. Phần 5: Kết luận và kiến nghị: trang 77 đến 78.
Phần 6: Tài liệu tham khảo: trang 79 đến 83. Phần 7: Phụ lục: từ trang 84 đến trang 105. Tổng quan về cây đinh lăng 1. Tên gọi Phân loại khoa học của cây đinh lăng: Giới (Kingdom): Thực vật (Plantae).
Phân họ (Subfamalia): Aralioideae. Tên khoa học: Polyscias fruticosa (L. Tên thường gọi: Đinh lăng, đinh lăng lá xẻ, cây gỏi cá, nam dương sâm, nhân sâm đất. Tên đồng nghĩa: Panax fruticosus, Panax fruticosum, Nothopanax fruticosus, Aralia fruticosa, Tieghtôiopanax fruticosus.
Tên Trung Quốc:Vũ Diệp Phúc Lộc Đồng. Tên nước ngoài: Ming Aralia, Gingsen free (Anh); Polyscias (Pháp). Ta hay dùng rễ (củ) hay vỏ rễ phơi hoặc sấy khô, lá và thân của cây đinh lăng. Phân loại Đinh lăng có rất nhiều loại nhưng loại phổ thông và được trồng nhiều làm dược liệu hay trồng trong vườn nhà dân lấy ăn sống là loại đinh lăng lá nhỏ.
Còn các loại đinh lăng khác do không có giá trị dược liệu nên đa phần được trồng làm cảnh hoặc ít được trồng. [4] Đinh lăng được phân thành các loại theo dấu hiệu nhận biết trên lá cây, thân cây: 4 Đinh Lăng lá nhỏ (Đinh Lăng Nếp): Đinh lăng nếp hay đinh lăng lá nhỏ. Đây là loại đinh lăng phổ biến nhất, thường gặp nhất và dùng để ăn. Giống Đinh lăng này là một loại cây nhỏ, thân nhẵn, không có gai, thường cao 0,8 đến 1,5m có những nơi đất tốt cây cao 1,8- 2m.
Đây chính là loại có giá trị dược liệu dùng sắc nước hoặc ngâm Rượu Đinh lăng rất tốt. Đinh Lăng Đĩa: Hình dáng là rất to, hiếm gặp, ít người biết, vì hình dáng như cái đĩa. Đinh Lăng Lá Răng: Cây đinh lăng lá răng thường dùng làm cảnh, lá xẻ răng cưa, một số vựa cây kiểng vẫn bán cây này để trưng bày trong nhà, có thể mua loại cây này tại các điểm bán cây cảnh. Cây Đinh Lăng Viền Bạc (đinh lăng lá bạc): Đây cũng là cây đinh lăng được dùng làm cảnh do lá xẻ, đẹp, dáng đẹp thường dùng làm cây trang trí dưới dạng cây đinh lăng bon sai.
Lá kép có 7 lá chét, lá chét thường có viền trắng. Đinh Lăng lá to: Loại đinh lăng này cũng là loại khá hiếm gặp, lá của nó có hình dạng giống đinh lăng nếp nhưng lá thường to hơn gấp đôi hoặc gấp 3 lần lá của cây đinh lăng nếp. Lá kép có 11 – 13 lá chét, lá chét có hình mác có răng cưa to. Đinh Lăng lá tròn: Đây cũng là loại đinh lăng ít gặp trong đời sống, thường được trồng làm cảnh, lá kép thường chỉ có 3 lá chét trên một cuống dài, lá chét hình tròn, đầu tù.
Cây Cơm Cháy: Đây không phải là Đinh Lăng nhưng có lá, thân, hoa rất giống cây Đinh Lăng. Cây này lại mọc ở rừng nên một số người thường nhầm lẫn đây là cây Đinh Lăng rừng vì lá và cây có nhiều điểm tương đồng với cây đinh lăng.1: cây đinh lăng (vẽ mô tả) Hình 1.2: cây đinh lăng dùng làm cảnh Hình 1.3: lá cây đinh lăng ± ± Hình 1.4: hoa cây đinh lăng 6 Hình 1.5: trái đinh lăng 7 Hình 1.7: đinh lăng lá răng Hình 1.6: đinh lăng đĩa Hình 1.8: đinh lăng lá bạc Hình 1.9: đinh lăng lá to 8 Hình 1.10: đinh lăng lá tròn 1. Nguồn gốc – Phân bố Đinh lăng lá xẻ (Polyscias fruticosa (L.) Harms, Araliaceae) có nguồn gốc ở vùng đảo Polynesie (Thái Bình Dương), thuộc họ Araliaceae, chi Polyscias Forst và Forst. chi này gần 100 loài trên thế giới phân bố rãi rác ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, nhất là ở vùng đảo Thái Bình Dương [3] Cây được trồng ở Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào hay các nước nhiệt đới khác để làm gia vị, làm cây cảnh và làm thuốc.
Ở Việt Nam, hiện có hơn 10 loài đinh lăng [3], đa số đinh lăng trồng hiện nay được sử dụng làm cây cảnh, chỉ có vài loài được sử dụng làm thước, loài đinh lăng được sử sủ dụng phổ biến nhất là Polyscias fruticosa L. Đây là loài có nhiều tác dụng dược lý giống Nhân sâm [4].Đinh lăng cũng có từ lâu trong nhân dân và trồng phổ biến khá phổ biến ở vườn gia đình, đình chùa, trạm xá, bệnh viện,. Cây đinh lăng được trồng phổ biến ở Nam Định, Thái Bình, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Yên Bái,… Đinh lăng là cây sống nhiều năm, ưa ẩm, ưa sáng nhưng cũng chịu hạn, chịu bóng nhưng không chịu úng ngập. Cây có biên độ sinh thái rộng, phân bố trên khắp các vùng sinh thái, 9 có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát.
Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 25oC (từ giữa thu đến cuối xuân). Đinh lăng có khả năng tái sinh vô tính vô cùng tốt, chỉ cần giâm cành hoặc một đoạn đinh lăng xuống đất là nó có thể phát triển thành một cây mới. Đặc điểm sinh học Đinh lăng hay còn gọi là cây gỏi cá (vì người dân thường lấy lá để ăn gỏi cá, nhưng tên đinh lăng phổ biến hơn) là một loại cây nhỏ, thân nhẵn, không có gai, thường cao 0. Lá kép xẻ lông chim dài 20 - 40cm, không có lá kèm rõ.
Lá chét có cuống gầy dài 3 - 10mm, phiến lá chét có răng cưa không đều, lá có mùi thơm. Cụm hoa hình chùy ngắn 7 - 18mm gồm nhiều tán, mang nhiều hoa nhỏ. Tràng, nhị với chỉ nhị gầy, bầu hạ hai ngăn có rìa trắng nhạt. Quả dẹt dài 3 - 4mm, dày 1mm có vòi tồn tại.
Quả dẹt, hình trứng rộng, màu trắng bạc [5]. Các hợp chất tự nhiên có trong cây Đinh lăng Đinh lăng có chứa các alkaloid, glycoside, saponin và các acid amin tan trong nước như B1, B2, B5, C và các phytosterin.Ở tất cả các bộ phận như rễ, thân và lá đều có chứa saponin nhưng nhiều nhất là ở vỏ rễ và lá [2]. Ngoài ra trong đinh lăng còn chứa 20 acid amin và các loại acid amin không thay thế được như lysin, methionin, tryptophan, cystein [2]. Trong lá Trong lá, đinh lăng còn chứa saponin triterpenoid (1.65%), tinh dầu, phytosterol, tamin, acid hữu cơ, đường khử và hợp chất uronic.
Saponin triterpenoid có thành phần aglycol và acid oleanolic [5], đây là một chất có tác dụng dược liệu [6]. Trung tâm Sâm và Dược liệu thành phố Hồ Chí Minh thuộc Viện dược liệu đã phân lập được năm loại hợp chất polyacetylen từ lá đinh lăng là panaxynol; panoxydol; heptadeca- 1,8(E)-dien-4,6 diyn-3,10 diol; heptadeca-1,8(E)-dien-4,6 dien-3 ol-10 ol; heptadeca- 1,8(Z)-dien-4,6 diyn-3,10 diol. Hai hợp chất sau chỉ mới tìm thấy trong lá đinh lăng mà chưa có trong các cây khác thuộc chi Panax và họ Araliaceae [6]. Trong rễ 10 Trong rễ cũng tìm thấy năm hợp chất polyacetylen.
Trong đó chỉ có panaxynol; panoxydol; heptadeca-1,8(E)-dien-4,6 dien-3,10 diol là trùng hợp với các chất trong lá. Ba chất này có tác dụng kháng khuẩn mạnh và chống một số dạng ung thư [7]. Các nghiên cứu về cây đinh lăng Năm 1989, Nguyễn Khắc Viện đã nghiên cứu và cho thấy trong rễ có 4% saccarose, một chất kết tinh A chưa xác định cấu trúc hóa học, có điểm sôi trong khoảng 158 - 161 oC, tan nhiều trong cloroform và aceton [8]. Năm 1990, Nguyễn Thới Nhâm và cộng sự đã công bố trong thành phần của rễ, thân và lá có các glycosid, alcaloid, tanin, vitamin B1 và khoảng 20 loại acid amin như arginin, alanin, asparagin, acid glutamic, leucin, lysin, phenylalanin, prolin, threonin, tyrosin, cystein, tryptophan, metionin.
và cộng sự đã dùng phương pháp GC-MS để phân tích thành phần tinh dầu của lá cây mọc ở Fiji và Thái Lan. Kết quả cho thấy trong tinh dầu có khoảng 24 cấu tử, trong đó có 4 chất chính là: β-eltôien; βgermacren-D; E- γ-bisabolen và α-bergamoten [9]. Năm 1991, Võ Xuân Minh cùng cộng sự đã khảo sát hàm lượng saponin toàn phần trong các bộ phận của cây Đinh lăng với kết quả: Rễ (0,49%), vỏ rễ (1,00%), lõi rễ (0,11%) và lá (0,38%) [10]. Năm 1992, trong nghiên cứu tiếp theo, Võ Xuân Minh cho biết trong cây Đinh lăng có các alcaloid, glucosid, saponin, các vitamin tan trong nước như B1, B2, B6, C.
Nghiên cứu cũng cho thấy rễ cây Đinh lăng có chứa tới 20 acid amin. Năm 1992, Lutomski và cộng sự đã tách chiết từ rễ 5 hợp chất thuộc loại hợp chất polyacetylen [11]. Cũng vào năm 1992, Nguyễn Thị Nguyệt và cộng sự đã trích ly được acid oleanolic [12] Năm 1995, Chaboud A. và cộng sự đã chiết xuất từ lá một saponin triterpen, đó là acid 3- O-β-D-galactopyranosyl-(1→2)-β-D-glucopyranosyloleanolic [13].
và cộng sự đã trích ly từ lá khô, một saponin triterpen là acid 3-O-α-L- rhamnopyranosyl-(1→4)-β-D-glucopyranosyl-28-O-β-Dglucopyranosyl-oleanolic. Tác dụng dược lý 11 Theo bác sĩ Huỳnh Ngọc Tựng, các loài cây đinh lăng được trồng ở Việt Nam đều dùng làm thuốc được. Tuy nhiên, có một số loài cây đinh lăng vẫn chưa tìm thấy tài liệu nghiên cứu một cách cụ thể về dược tính [15]. Tính vị và công dụng Rễ đinh lăng có vị ngọt, tính mát có tác dụng làm thuốc bổ tăng lực, thông huyết mạch, bồi bổ khí huyết, chữa suy nhược cơ thể, gầy yếu, mệt mỏi, tiêu hóa kém, phụ nữ sau sinh ít sữa.
Có nơi còn sử dụng rễ đinh lăng để chữa ho ra máu, đau tử cung, kiết lỵ, lợi tiểu, chống độc [3] Lá có vị nhạt, hơi đắng, tính mát có tác dụng giải độc thức ăn, chống dị ứng, chữa ho ra máu, kiết lỵ, chữa cảm sốt. Thân và cành chữa thấp khớp, đau lưng [3]. Ở Ấn Độ, đinh lăng dùng làm thuốc lâm sàn và trị sốt. Rễ và lá sắc uống để lợi tiểu, chữa sỏi thận, sỏi bàng quang, khó tiểu tiện.
Bột lá giã với muối và đắp trị vết thương [3]. Dược tính của Polyscias fruticosa (L. Cây Cây đinh lăng có tác dụng làm tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với một số yếu tố như: kiệt sức, nóng,… [16] Các thí nghiệm trên chuột cho thấy cây Polyscias fruticosa có khả năng làm tăng tiết niệu gấp trên năm lần so với bình thường, làm tăng sức đề kháng của chuột đối với các bức xạ siêu cao tầng, kéo dài thời gian sống của chuột bị nhiễm ký sinh trùng sốt rét Plasmodium berghei, làm tăng tác dụng của thuốc chống sốt rét cloroquin [17] Thực nghiệm trên người cho thấy, cây Polyscias fruticosa làm tăng khả năng chịu đựng của bộ đội, vận động viên thể thao. Khác với nhân sâm, Polyscias fruticosa không làm tăng huyết áp [8], Năm 2001, Nguyễn Thị Thu Hương và cộng sự đã dùng chuột nhắt trắng để thử nghiệm tác dụng chống trầm cảm và stress của Polyscias fruticosa.