Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về báo cáo bộ phận Chương 3: Thực trạng báo cáo bộ phận tại Việt Nam Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Giải pháp hoàn thiện báo cáo bộ phận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN 2.1 Tổng quan về báo cáo bộ phận 2.1 Khái niệm về báo cáo bộ phận Theo những nguyên tắc được chấp nhận chung (GAAP) định nghĩa “Báo cáo bộ phận là báo cáo của các bộ phận hoạt động của một công ty trong việc trình bày kèm theo báo cáo tài chính của nó”. BCBP nhằm cung cấp thông tin cho nhà đầu tư và chủ nợ có liên quan đến kết quả tài chính của công ty. Thông qua những thông tin về BCTC được trình bày giúp họ có căn cứ cho việc ra quyết định đầu tư, quyết định cho vay. Đồng thời, việc xác định các thông tin cần báo cáo giúp người ra quyết định hoạt động sử dụng những thông tin này để đánh giá kết quả hoạt động và phân bổ nguồn lực Theo Ijiri (1995) định nghĩa “Báo cáo bộ phận là các số liệu tài chính riêng của các đơn vị, công ty con hoặc những bộ phận khác nhau của một công ty”.
Tất cả các công ty niêm yết phải công bố lợi nhuận và chi phí bộ phận với những thông tin có liên quan như doanh thu bên ngoài, doanh thu nội bộ, thu nhập, chi phí, các khoản mục không dùng tiền mặt,. Theo VAS 28 “Báo cáo bộ phận là báo cáo thể hiện sự chia nhỏ hoạt động của doanh nghiệp thành những thành phần hay bộ phận và trình bày các thông tin tài chính của các bộ phận đó. Một trong những cách phổ biến nhất là phân chia theo ngành nghề kinh doanh hoặc theo khu vực địa lý hoặc phân chia kết hợp theo ngành nghề kinh doanh và khu vực địa lý” Phụ lục 1: ví dụ về BCBP trình bày theo khu vực địa lý của Công ty Cổ Phần BIBICA Phụ lục 2: ví dụ về BCBP trình bày theo lĩnh vực kinh doanh của Công ty Cổ FPT Phụ lục 3: ví dụ về BCBP kết hợp trình bày theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý của Công ty Cổ Phần Khử Trùng Việt Nam 2.2 Quá trình hình thành báo cáo bộ phận trên thế giới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Quy định về trình bày BCBP lần đầu tiên được ban hành tại Mỹ vào năm 1969 khi Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ yêu cầu phải trình bày các thông tin hoạt động kinh doanh trong các giấy tờ niêm yết của doanh nghiệp. Một năm sau Ủy ban này mở rộng việc trình bày các thông tin này ra trong biểu mẫu báo cáo 10-K dành cho các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán.
Tháng 12 năm 1974 Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASC) ban hành E3, một bảng dự thảo của chuẩn mực về báo cáo tài chính hợp nhất, tất cả các công ty nộp báo cáo cho SEC đều phải trình bày các thông tin này trên báo cáo thường niên của công ty đó. Chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ SFAS 14 “Báo cáo tài chính cho bộ phận kinh doanh” được Ủy ban chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ (FASB) ban hành lần đầu vào năm 1976 đã mở rộng các yêu cầu trình bày đối với các thông tin bộ phận. Đây là chuẩn mực kế toán đầu tiên liên quan đến báo cáo về thông tin bộ phận được yêu cầu trình bày theo lĩnh vực kinh doanh và khu vực địa lý. Tháng 3 năm 1980 IASC ban hành ED E15 “báo cáo thông tin tài chính bộ phận”.
Đây là bảng dự thảo được xây dựng dựa trên SFAS 14 của Hoa Kỳ, là phương pháp tiếp cận rủi ro và lợi ích có được. Việc đưa ra các quyết định dựa trên cơ sở chính là sự phân chia theo sản phẩm, dịch vụ hoặc phân chia theo khu vực địa lý. Tháng 8 năm 1981 IASC đã ban hành chuẩn mực kế toán quốc tế về BCBP IAS 14. Chuẩn mực này có nội dung khá gần với SFAS 14, do đó các vấn đề tồn tại của SFAS 14 cũng là các vấn đề tồn tại của IAS 14.
Năm 1992 Văn bản định vị của Hiệp hội quản lý đầu tư và nghiên cứu (AIMR) ra đời đã liệt kê những thiếu sót trong BCBP ở hầu hết các BCTC được công bố tại Mỹ Năm 1994 Hiệp hội kế toán công chứng Hoa Kỳ (AICPA) thành lập một ủy ban đặc biệt về BCTC. Ủy ban này đã được thành lập như một câu trả lời cho văn bản định vị của AIMR nhằm điều tra nhu cầu thông tin của các nhà đầu tư và các chủ nợ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Tháng 12 năm 1995 IASC ban hành E51 “Báo cáo thông tin tài chính bộ phận”. Bảng dự thảo này cho thấy sự thay đổi đáng kể việc công bố thông tin tài chính của các sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Qua đó cho thấy sự thay đổi trong cách xác định bộ phận được công bố Sau đó, các cơ quan điều hành chuẩn mực của Canada và Hoa Kỳ cùng với Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế thực hiện dự án kết hợp để soát xét lại các chuẩn mực về BCBP và đã đem lại kết quả là các chuẩn mực mới được ban hành bao gồm: Chuẩn mực kế toán Canada mục 1700 (CICA Handbook Section 1700) và Chuẩn mực kế toán Hoa Kỳ số 131 (FASB, 1997).
SFAS 131 ra đời đã đánh dấu sự thay đổi đáng kể so với chuẩn mực trước đó đặc biệt là thay đổi phương pháp mới trong nguyên tắc xác định bộ phận trình bày Tháng 8 năm 1997 IASC quyết định sửa đổi IAS 14 thành IAS 14R và IAS 14R có hiệu lực kể từ nỳ 01 tháng 07 năm 1998. Chuẩn mực này quy định ngưỡng định lượng rõ ràng để xác định các phần được báo cáo, thay các định nghĩa rộng thành các định nghĩa rõ ràng hơn về tất cả các thuyết minh và cung cấp những hướng dẫn cụ thể hơn Tháng 9 năm 2002, FASB và IASB thực hiện một thỏa thuận để loại bỏ sự khác biệt giữa US GAAP và IFRS được Nghị viện Châu Âu bỏ phiếu chấp thuận một số quy định yêu cầu tất cả các công ty EU niêm yết tuân thủ việc trình bày báo cáo hợp nhất theo quy định của IAS. Năm 2005 dự án hội tụ giữa US GAAP và IFRS đã được tiến hành Ngày 19 tháng 1 năm 2006, IASB ban hành bản dự thảo IFRS 8 draft “Bộ phận hoạt động” thay thế cho IAS 14R hiện có. Sự khác biệt giữa IAS 14R và bảng dự thảo này là thay đổi phương pháp tiếp cận rủi ro và lợi ích theo hướng quản trị.
Đồng thời nó đòi hỏi doanh nghiệp phải báo cáo thông tin về doanh thu có được từ kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ, các quốc gia tạo ra doanh thu cho công ty, tài sản mà công ty đang nắm giữ và những khách hàng lớn. Ngày 30 tháng 11 năm 2006, IFRS 8 được chính thức ban hành có nội dung gần giống với SFAS 131. Đây là kết quả của dự án hội tụ các chuẩn mực kế toán LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 quốc tế với sự hợp tác của IASB và FASB. Chuẩn mực này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 2.3 Lợi ích của báo cáo bộ phận Các thông tin bộ phận giúp người sử dụng báo cáo nắm được hiệu quả kinh doanh trong quá khứ và dự đoán dòng tiền trong tương lai.
Để chứng minh điều này thì lợi ích của BCBP cần phải được xác minh thông qua nhiều phương pháp tiếp cận khác nhau. Nhiều nghiên cứu đã thực hiện một số kiểm tra nhỏ về tính hữu ích của thông tin mà BCBP cung cấp. Các kiểm tra này được chia thành 3 loại như sau: Phân tích quá trình ra quyết định của ngƣời sử dụng: là xem xét các quyết định chịu tác động của các loại thông tin khác nhau. Để thực hiện thì phải cung cấp cho người sử dụng những loại thông tin khác nhau và yêu cầu họ đưa ra những loại quyết định khác nhau.
Dựa vào đó có thể nhìn thấy được các quyết định thực tế của người sử dụng và sự chính xác của các ước tính của người phân tích. Nhóm chuyên gia phân tích tài chính với chuyên môn và các dự đoán của họ được công bố phổ biến đặc biệt là tại Hoa Kỳ. Nghiên cứu của Baldwin (1984) đã cho thấy rằng nhờ có các thuyết minh bộ phận đã giúp cho các chuyên gia phân tích dự đoán chính xác hơn. Có cùng kết quả với Baldwin là các nghiên cứu thực hiện sau đó của Lobo et al.
(1998) nghiên cứu các thuyết minh bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh. Nochols et at. (1995) nghiên cứu ảnh hưởng của các thuyết minh bộ phận theo khu vực địa lý đến các dự đoán của các chuyên gia phân tích về thu nhập. Emmauel et at.
(1989) nghiên cứu về dự đoán của các chuyên gia phân tích tại Anh đã đem lại kết quả khẳng định cho kết luận đã được đưa ra trước đó của các nghiên cứu tại Hoa Kỳ So sánh khả năng dự đoán của các ƣớc tính khác nhau: là kiểm tra khả năng dự đoán thông qua so sánh sự chính xác của các ước tính số học về doanh thu, thu nhập hay các chỉ tiêu kế toán khác sử dụng các thông tin hợp nhất với các ước tính đơn giản thay vì dựa vào các thông tin bộ phận Có số lượng lớn các nghiên cứu về khả năng dự đoán trong đó người nghiên cứu đưa ra dự đoán của họ về khả năng hoạt động của công ty. Nghiên cứu của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Kinney (1971) đã cho kết luận là mô hình nghiên cứu cho kết quả dự đoán chính xác nhất là mô hình dựa trên doanh thu và lợi nhuận bộ phận. Mô hình này thành công hơn so với mô hình sử dụng dữ liệu hợp nhất Kiểm tra phản ứng của thị trƣờng chứng khoán: Đây là phương pháp cho kết quả ít mơ hồ nhất khi đưa ra kết luận. Họ kiểm tra liệu các BCBP có làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu hay các phép tính đo lường về rủi ro thị trường.
Nếu các phản ứng này tồn tại, các thông tin phần nào được sử dụng và do đó nó hữu ích. Nếu các thông tin bộ phận không có ảnh hưởng đáng kể đến thị trường thì có thể kết luận nó không được những người tham gia thị trường chứng khoán sử dụng hoặc là các thông tin này đã được thu thập từ nguồn khác.