CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm biến đổi xã hội Biến đổi xã hội Biến đổi xã hội là vấn đề nghiên cứu chủ đạo của các nhà xã hội học truyền thống. Thuật ngữ này được sử dụng và phát triển bởi nhiều nền văn hóa khác nhau trong thời kỳ lịch sử. Theo từ điển điện tử Britannica, có ba ý tưởng cơ bản nhất về biến đổi xã hội: (1) ý tưởng về sự suy giảm, suy thoái, hoặc đánh mất ân sủng (về mặt tôn giáo), (2) ý tưởng về một chu kỳ thay đổi, một mô hình của các giai đoạn tăng trưởng và suy giảm lặp lại, cuối cùng (3) ý tưởng về một quá trình liên tục.
Ba ý tưởng này vốn nổi bật ở thời cổ đại của Hy Lạp và La Mã, sau đó trở thành đặc trưng cho tư tưởng xã hội phương Tây. Tuy nhiên, tư tưởng này thật sự trở nên nổi bật nhất vào thời kỳ Khai Sáng trong khoảng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 18. Biến đổi xã hội có thể được nhìn nhận như sự biến đổi các thành tố trong hệ thống các thành tố của văn hóa – xã hội. Cụ thể hơn, đó là sự biến đổi về cấu trúc, giá trị, chuẩn mực và hành vi trong tổng thể văn hóa.
Nhà xã hội học người Mỹ Wilbert E. Như vậy, trình tự thời gian của các sự kiện là yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc phân tích sự biến đổi. Bằng cách tiếp cận này, Moore nhận xét rằng biến đổi xã hội chính là sự thay đổi đáng kể theo thời gian trong cấu trúc hành vi và trong văn hóa, kể cả các chuẩn mực và giá trị (Moore, 1967) Khi thuật ngữ Social change được du nhập vào Việt Nam, nhiều cách dịch đã được các nhà khoa học chọn lựa. Trong đó, Phạm Tất Dong và Lê Ngọc Hùng đã lựa chọn dùng “biến đổi xã hội”.
Họ nhận định rằng “biến đổi xã hội là một quá trình qua đó những khuôn mẫu của các hành vi, các quan hệ, các thiết xã hội và các hệ thống phân tầng được thay đổi qua thời gian” (Phạm Tất Dong - Lê Ngọc Hùng, 2001: 280). Trong khi đó, tiến sĩ Trương Thị Hiền đã sử dụng cách dịch “chuyển biến xã hội” cho thuật ngữ này. Bà cho rằng chuyển biến xã hội có thể hiểu theo hai nghĩa như sau: thứ nhất, đó là sự thay đổi của xã hội, tức là sự thay đổi ở tầm vĩ mô; thứ hai, đó là sự thay 9 đổi trong xã hội, tức là sự thay đổi ở tầm trung mô hoặc vi mô. (Trương Thị Hiền, 2020: 187) Quá trình xã hội Những quá trình xã hội là những hoạt động liên tục diễn ra trong các nhóm, xã hội và giữa các nhóm, các cộng đồng.
Các nhà xã hội học thường dùng cách này để chỉ các biện pháp (một cách chính thức hoặc không chính thức) được thực hiện nhằm đáp ứng được các mục tiêu của nhóm, của cộng đồng và để duy trì sự kiểm soát xã hội. Trong đó, thiết chế hóa và xã hội hóa là những quá trình nhằm bảo tồn sự ổn định xã hội. Các quá trình này phản ánh tính hỗ tương. Tuy nhiên, những mối quan hệ của các nhóm người không chỉ thể hiện tính chất hợp tác mà còn cả sự cạnh tranh và xung đột nữa.
Trong đó, khái niệm xã hội hóa có nhiều định nghĩa khác nhau. Xã hội hóa là quá trình con người học hỏi các chuẩn mực và kỳ vọng xã hội, để chấp nhận niềm tin chung và ý thức được các giá trị xã hội. Xã hội hóa là một tiến trình kéo dài suốt đời, dựa trên sự tương tác xã hội qua đó cá nhân phát triển khả năng con người của mình và học các khuôn mẫu văn hóa của họ (J. Macionis, 2003) Xã hội hóa là một quá trình dẫn dắt một cá nhân một cách toàn diện và bền bỉ bước vào một thế giới khách quan của một xã hội hay một khu vực của xã hội (Trần Hữu Quang, 2019) Nhìn chung, xã hội hóa là một quá trình cá nhân tương tác để học hỏi các giá trị, chuẩn mực, niềm tin của các nhóm xã hội mà họ tham gia.
Đồng thời, xã hội hóa còn mang tính kế thừa. Mỗi xã hội đều xây dựng một khung thể chế để xã hội hóa các thành viên, nhằm đạt được kết quả cuối cùng chính là cá nhân nhận biết quy tắc chuẩn mực và điều chỉnh hành vi phù hợp với các giá trị, chuẩn mực, niềm tin trong nền văn hóa xã hội mà họ tham gia. Xã hội hóa là quá trình tất yếu và kéo dài cả đời. Trong suốt quá trình này, con người được dạy và tự học để biến đổi từ con người sinh học sang con người xã hội.
Mỗi cá nhân trong xã hội vừa là khách thể vừa là chủ thể của quá trình xã hội hóa, do đó, tại cùng một thời điểm, cá nhân có thể được xã hội hóa bởi các tác nhân khác nhau. Tốc độ của quá trình xã hội hóa phụ thuộc nhiều yếu tố: thứ nhất là sự tác động, ảnh 10 hưởng của khung cảnh văn hóa, của gia đình và xã hội lên tác phong cá nhân; thứ hai là khả năng xã hội của mỗi cá nhân do yêu cầu của xã hội đối với mỗi người là không giống nhau; thứ ba là sự định hướng, hạn chế sự lựa chọn sẽ thúc đẩy quá trình xã hội hóa diễn ra nhanh hơn. Quá trình xã hội hóa liên tục diễn ra tức là con người cũng liên tục thay đổi. Trong khi đó, chính xã hội và chủ thể của nó - con người - luôn có sự tương tác và ảnh hưởng đến nhau nên sự biến đổi của con người một phần dẫn đến sự biến đổi của xã hội.
Do đó, biến đổi xã hội diễn ra liên tục. Sự biến đổi của xã hội diễn ra chậm hay nhanh; quy mô lớn hay nhỏ đôi khi còn phụ thuộc vai trò xã hội của con người. Một số quan điểm về biến đổi xã hội Trong khoảng thế kỷ XIX, chủ nghĩa tiến hóa là quan điểm cốt yếu được sử dụng trong các học thuyết xã hội có ảnh hưởng được phát triển. Sự ra đời của thuyết tiến hóa của nhà bác học Darwin đã ảnh hưởng lớn đến nền khoa học lúc bấy giờ.
Auguste Comte (1798 - 1857), một trong những người đặt nền tảng cho môn xã hội học khoa học, đã nhận định rằng tất cả các xã hội, bằng biến đổi xã hội, sẽ theo một con đường phát triển và tiến bộ hướng tới một xã hội tốt hơn. Trong đó, các xã hội bắt buộc phải trải qua ba giai đoạn: thần học, siêu hình và thực chứng. (Trương Thị Hiền, 2020: 194) Tiếp nối tư tưởng của Comte, Herbert Spencer (1829 - 1903) đem lại một góc nhìn khác về biến đổi xã hội. Ông nhìn nhận sự tồn tại của các tổ chức và các xã hội như là sự liên quan trực tiếp với một môi trường chuyển đổi.
Spencer có niềm tin vào một xã hội phương Tây thuận lợi hơn trong cuộc đua tới trình độ cao nhất bởi vì họ “đáp ứng tốt hơn” với những điều kiện của thế kỷ XIX hơn những xã hội không thuộc phương Tây. Tuy nhiên, Émile Durkheim (1858 – 1917) cho rằng để duy trì xã hội, những hình thức mới của sự đoàn kết xã hội, hoặc những ý thức cụ thể sẽ xuất hiện. Trong các xã hội đơn giản, mỗi thành viên thực hiện các nhiệm vụ giống nhau, chia sẻ cùng những giá trị niềm tin, và đặc biệt là có thể thay thế lẫn nhau. Sự công nghiệp hóa vào thế kỷ XIX cùng với sự tăng trưởng dân số đã gia tăng cạnh tranh dẫn tới phá hủy những hình thức truyền thống của sự đoàn kết xã hội.Vì vậy, để tiến tới một xã hội cao hơn cần tới sự phân công lao động chuyên biệt với những vai trò đặc biệt.
Sự cố kết xã 11 hội bên trong là kết quả của sự bổ sung lẫn nhau giữa các chức năng và một kiểu giá trị mới xung quanh khái niệm nhân cách con người. Nhà xã hội học T. Parson đã giải thích chuyển biến xã hội xuất phát từ hai nguyên nhân: có thể do tác động từ bên ngoài hệ thống xã hội, cũng có thể do sự căng thẳng từ chính bên trong hệ thống. Một số khái niệm Bản sắc Bản sắc (Identity) Bản sắc (identity) là một phạm trù nghiên cứu truyền thống của triết học và logic học, các nhà khoa học nhìn nhận và định nghĩa bản sắc với những khía cạnh khác nhau, đồng thời xem xét trên 3 cấp độ: cá nhân, cộng đồng/tập thể/nhóm/tộc người – dân tộc, quốc gia – dân tộc.
Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ bản sắc dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật, cũng tức là nói đến sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó (Nxb. Khoa học Xã hội, 1977). Trong thực tế, khi nhắc đến bản sắc, những từ ngữ để định hình dễ hiểu toát lên từ tâm trí của con người là nói tới những cái riêng, cái rất riêng của một sự vật, để từ đó phân biệt sự vật này với sự vật khác trong thế giới khách quan. Cách định nghĩa này có phần nhấn mạnh đến cái riêng, cái đặc thù, cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất sự vật, dựa trên một phương pháp định nghĩa Logic là định nghĩa theo tập hợp nhằm thông qua giống gần gũi để chỉ sự khác biệt về loài (Tô Duy Hợp & Nguyễn Anh Tuấn, 2004).
Ở một định nghĩa khác, bản sắc được xem xét với tư cách là một từ ghép gốc Hán - Việt, được cụ thể hóa dựa trên cách tiếp cận phân tích ngữ nghĩa của hai từ “bản” và “sắc”. Theo đó, “bản” là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; “sắc” là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra bên ngoài. Nhờ cách tiếp cận này, khái niệm “bản sắc” được nhận thức với 2 mặt cụ thể: “mặt bản chất bên trong và mặt biểu hiện bên ngoài, giữa hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng với nhau”( Hoàng Thị Hương, 2010:67). Trong 2 mặt của bản sắc, “mặt bên trong được cho là phản ánh tính đồng nhất, bản chất của một lớp đối tượng sự vật nhất định, còn mặt bên ngoài phản ánh những dấu hiệu, những sắc thái riêng của sự vật để làm cơ sở phân biệt sự khác nhau giữa sự vật này với sự vật khác” (Hoàng Thị Hương, 2010:67).