ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Vấn đề chung Hiện nay việc thực hiện những dự án nhà cao tầng đang phát triển mạnh tại Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển xã hội. Tuy nhiên do các điều kiện của từng khu vực, từng quốc gia với từng nền văn hóa, thể chế khác nhau nên việc thực hiện các dự án nhà cao tầng cũng khác nhau nhiều do địa chất, thời tiết, phong cách thiết kế… Từ đó dẫn đến những rủi ro khác nhau trong quá trình thực hiện. 1 Một dự án cao tầng gặp sự cố ngay khi hoàn thành thi công hoàn thiện Với việc hình thành vòng đời của một dự án từ Thiết Kế - Thi Công – Vận Hành dự án thì giai đoạn Thi Công là giai đoạn chiếm nhiều thời gian, tài nguyên, nhân vật lực. Do đó đây cũng là giai đoạn mà dự án gặp rất nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện.
2 Nhận dạng rủi ro khác nhau trong từng giai đoạn thi công 1 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt, TS. Đỗ Tiến Sỹ Các rủi ro xảy ra trong quá trình thi công dự án thường do nhiều yêu tố chủ quan và khách quan mà công trình chịu tác động có thể đơn lẻ hoặc đồng thời các yếu tố, có thể duy nhất hoặc thường xuyên… dẫn đến những hệ lụy, ảnh hưởng nhiều đến dự án về mặt Tiến độ, Chất Lượng, Chi Phí và An Toàn Lao Động… Hình 1. 3 Những tác động nhân khác nhau của từng nhân tố rủi ro Các nhân tố rủi ro luôn phát triển, phát sinh và mở rộng phạm vi cùng với sự phát triển của công nghệ, khoa học và xã hội. Do đó, việc tìm và nhận dạng ra và phân tích các nguyên nhân gây rủi ro đến quá trình thực hiện dự án các rủi ro từ đó đưa ra quy trình kiểm soát cũng như những định hướng khắc phục, ứng phó rủi ro là điều cần thiết và luôn cần được cập nhật để hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả cho dự án, doanh nghiệp, giảm bớt tác động xấu đến sự phát triển của xã hội.
Để cải thiện các vấn đề nêu trên, việc nhận dạng và ứng phó cần được thiết lập trước tùy vào điều kiện thực tế công trình sẽ được áp dụng phù hợp dựa vào các thống kê, ngân hàng dữ liệu đã được mã hóa, lưu trữ sẵn từ các chuyên gia đầu ngành đã tổng hợp và tối ưu bằng hệ thống các bảng câu hỏi, khảo sát trước đó dựa trên phương pháp phân tích nhân tố (Factor Analysis) để phân tích các nguyên nhân, tác động của rủi ro và đưa ra giải pháp ứng phó tối ưu nhất. 2 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt, TS.2 Xác định vấn đề nghiên cứu Các câu hỏi đặt ra: 1. Các rủi ro nào gây tác động đến quá trình thực hiện dự án trong từng giai đoạn thi công dẫn đến ảnh hưởng về tiến độ, chất lượng, chi phí và an toàn lao động của dự án? 2. Các rủi ro này tác động như thế nào đến từng giai đoạn thực hiện và có mức độ, thứ hạng, mối liên hệ như thế nào đến dự án? 3.
Giải pháp, chiến lược ứng phó nào với từng tác nhân, từng giai đoạn để kiểm soát và quản lý các rủi ro đó cho dự án? Nhận thấy sự cần thiết của đề tài cùng với mong muốn đóng góp những giải pháp nhằm đưa ra các giải pháp và lập bản đồ rủi ro phù hợp nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao hiệu quả trong quá trình thi công công trình nhà cao tầng tại VIỆT NAM. Vì thế tác giả quyết định chọn đề tài: “Lập Bản Đồ Rủi Ro Trong Các Giai Đoạn Thi Công Nhà Cao Tầng Tại Việt Nam” để tiến hành nghiên cứu.3 Mục tiên nghiên cứu Xác định các rủi ro, nguyên nhân gây ra và tác động ảnh hưởng đến tiến độ, chất lượng, giá trị và an toàn lao động của dự án trong từng giai đoạn thi công thực hiện dự án. Đánh giá mức độ ảnh hưởng và xếp hạng các nguyên nhân, rủi ro này, đồng thời xác định mối liên hệ giữa chúng với nhau. Đề xuất chiến lược ứng phó với từng rủi ro, từng nhóm rủi ro trong từng giai đoạn thi công.
Lập ngân hàng dữ liệu, Thiết kế bản đồ rủi ro - ứng phó cho từng giai đoạn trong quá trình thi công thực hiện dự án.4 Phạm vi nghiên cứu Thời gian nghiên cứu: Tác giả triển khai nghiên cứu từ tháng 08/2020 – 01/2021. Địa điểm nghiên cứu: Dữ liệu được khảo sát từ các doanh nghiệp XD trong phạm vi TP Hồ Chí Minh. Đối tƣợng nghiên cứu: Là các rủi ro ảnh hưởng đến đến các giai đoạn thi công nhà cao tầng và các giá trị tiến độ, chi phí, chất lượng, an toàn trong quá trình thi công nhà cao tầng tại VIỆT NAM. Đối tƣợng thu thập dữ liệu: những chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực thi công và quản lý dự án cao tầng và đã trải qua các giai đoạn thi công xây dựng dự án: Phần Móng, Phần Thân và Hoàn Thiện.
3 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt, TS. Đỗ Tiến Sỹ Ban quản lý dự án. Nhà thầu chính, nhà thầu phụ. Quan điểm nghiên cứu: Lấy ý kiến của những người có kinh nghiệm để làm quan điểm phân tích.5 Ý nghĩa của nghiên cứu 1.1 Đóng góp về mặt học thuật Nghiên cứu này góp phần hệ thống lại các rủi ro ảnh hưởng chính đến Tiến độ chi phí, Chất lượng và An toàn lao động trong các giai đoạn thi công Phần ngầm, Phần Thân, Phần Hoàn Thiện của dự án.
Sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (Factor Analysis) để phân tích các nguyên nhân, tác động của rủi ro đến Tiến độ, Chi phí, Chất lượng và An toàn lao động trong các giai đoạn thi công Phần Ngầm, Phần Thân và Phần Hoàn Thiện của dự án nhà cao tầng. Từ đó tạo ra “Bản đồ rủi ro-ứng phó” từ ngân hàng dữ liệu thu thập được.2 Đóng góp về mặt thực tiễn Đề tài nghiên cứu nhằm hiểu rõ các rủi ro về nguyên nhân gây ra và tác động đến các yếu tố: Tiến độ, Chi phí, Chất lượng và An toàn lao động trong quá trình thực hiện dự án cho từng giai đoạn cụ thể: Phần Ngầm, Phần Thân và Phần Hoàn Thiện. Từ đó tiến hành đánh giá, xếp hạng rủi ro và thiết lập chiến lược ứng phó, tạo ra ngân hàng dữ liệu cho bản đồ rủi ro - ứng phó cho dự án. 4 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt, TS.
Đỗ Tiến Sỹ CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 Các khái niệm, định nghĩa: 2.1 Khái niệm Dự án nhà cao tầng Dự án là các hoạt động với các thông số được xác định chính xác với khung thời gian và các mục đích cho riêng dự án đó [14]. Nhà cao tầng là nhà ở và các công trình công cộng có số tầng lớn hơn 9 [15]. Định nghĩa nhà cao tầng theo Uỷ ban Nhà cao tầng Quốc tế: Ngôi nhà mà chiều cao của nó là yếu tố quyết định các điều kiện thiết kế, thi công hoặc sử dụng khác với các ngôi nhà thông thường thì được gọi là nhà cao tầng. Căn cứ vào chiều cao và số tầng nhà, Uỷ ban Nhà cao tầng Quốc tế phân nhà cao tầng ra 4 loại nhƣ sau: Nhà cao tầng loại 1: từ 9 đến 16 tầng (cao nhất 50m) Nhà cao tầng loại 2: từ 17 đến 25 tầng (cao nhất 75m) Nhà cao tầng loại 3: từ 26 đến 40 tầng (cao nhất 100m) Nhà cao tầng loại 4: từ 40 tầng trở lên (gọi là nhà siêu cao tầng) A.
Về độ cao khởi đầu của nhà cao tầng, các nƣớc có những qui định khác nhau. Dựa vào yêu cầu phòng cháy, tiêu chuẩn độ cao khởi đầu nhà cao tầng đƣợc trình bày ở bảng A. 1 Độ cao khởi đầu nhà cao tầng của một số nước Tên nƣớc Độ cao khởi đầu Trung Quốc Nhà ở 10 tầng và 10 tầng trở lên, kiến trúc khác ≥ 28m Liên Xô (cũ) Nhà ở 10 tầng và 10 tầng trở lên, kiến trúc khác 7 tầng Mỹ 22 ¸ 25 m hoặc trên 7 tầng Pháp Nhà ở > 50m, kiến trúc khác > 28m Anh 24,3m Nhật Bản 11 tầng, 31m Tây Đức ≥ 22m (từ mặt nền nhà) Bỉ 25m (từ mặt đất ngoài nhà) 5 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt, TS.2 Giai đoạn thi công xây dựng Là tập hợp những công tác thi công khác nhau có mức độ ảnh hưởng tương đồng, có cùng biện pháp thi công, có sử dụng các thiết bị, máy móc và điều kiện thi công tương tự nhau Trong thi công xây dựng nhà cao tầng có thể chia nhiều giai đoạn thi công khác nhau như: Thi công phần tạm, thi công phần chính, thi công hạng mục phụ trợ, hạ tầng… Trong đó phần thi công chính gặp nhiều rủi ro nhất gồm các giai đoạn: Thi công phần Ngầm Thi công phần Thân Thi công hoàn Thiện 2.3 Quản lý rủi ro Quản lý rủi ro (by PMBOK): Là những quá trình có liên quan tới việc nhận dạng, phân tích và đáp ứng lại với sự không chắc chắn trong suốt chu kỳ sống của dự án [16]. Quản lý rủi ro bao gồm việc làm tăng lên đến tột độ các kết quả của những sự kiện có tác động tốt đến d ự án, và làm giảm tối thiểu hậu quả của những sự kiện có ảnh hưởng xấu đến dự án.
1 Hệ thống quản lý rủi ro 6 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt, TS.4 Nhận dạng rủi ro: Là bước đầu tiên của quy trình khung quản lý rủi ro. Nhận dạng những rủi ro và sự không chắc chắn có thể giới hạn hay ngăn cản chúng ta đạt được mục tiêu đề ra. Các sự kiện, nguyên nhân nào có thể gây hại [16]. Tác giả Roger Flanagan và George Norman (1993) khuyến cáo, phải phân biệt rõ ràng giữa nguồn gốc của rủi ro và tác động rủi ro.
Thứ tự phải như sau: Ảnh hưởng, tác Nguồn gốc rủi ro Sự kiện xảy ra động Hình 2. 2 Trình tự của rủi ro [16] 2.5 Phân tích rủi ro Đánh giá hậu quả tương ứng với từng loại rủi ro hoặc kết hợp các rủi ro bằng cách sử dụng các kỹ thuật phân tích. Tổng hợp tác động của rủi ro bằng sử dụng nhiều loại kỹ thuật đo lường (Roger Flanagan & George Norman, 1993). [16] 7 Luận văn Thạc sĩ GVHD: TS Nguyễn Tuấn Kiệt, TS.
Đỗ Tiến Sỹ Hình 2. 3 Quy trình phân tích rủi ro 2.6 Phản hồi rủi ro Chúng ta sẽ tiến hành đáp ứng lại những rủi ro đã được nhận dạng như thế nào?