Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ VẤN ĐỀ NGẬP LỤT Ở HẠ DU HỒ CHỨA NƯỚC ĐỊNH BÌNH 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu 1. Đặc điểm địa lý tự nhiên: a. Vị trí địa lý Bình Định là một tỉnh thuộc duyên hải miền Trung Việt Nam, Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, Nam giáp tỉnh Phú Yên, Tây giáp 2 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đông giáp biển Đông.
Giới hạn bỡi hệ toạ độ địa lý như sau: - Cực Bắc : 140 42′ 10″ độ vĩ bắc, 1080 55′ 42″ độ kinh Đông. - Cực Nam : 130 30′ 10″ độ vĩ bắc, 1080 54′ 00″ độ kinh Đông. - Cực Đông : 130 36′ 33″ độ vĩ bắc, 1090 22′ 00″ độ kinh Đông. - Cực Tây : 140 25′ 00″ độ vĩ bắc, 1080 37′ 30″ độ kinh Đông.
Diện tích tự nhiên: 5996 km2, gồm thành phố Quy Nhơn và 10 huyện: An Lão, Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, An Nhơn, Tuy Phước, Vân Canh. Dân số trong toàn tỉnh, tính đến 1998 là 1,522 triệu người, phân bố ở 126 xã, 26 phường và thị trấn. Số dân cư sống ở thành thị chiếm 23,70%. Còn lại 76,30% sống ở nông thôn.
Mật độ bình quân 253,8 người/ km2. Đại bộ phận dân cư sông bằng nghề nông - lâm – ngư nghiệp. Một bộ phận hoạt động trong các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khai thác chế biến lâm sản, thủy sản, xây dựng, thương nghiệp dịch vụ y tế, giáo dục v.v… Khu vực nghiên cứu thuộc phía Nam tỉnh Bình Định, nằm gọn trong 3 lưu vực của các sông La Tinh, sông Kôn và sông Hà Thanh, bao gồm đất đai của 5 huyện: Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước và thành phố Qui Nhơn. - Công trình đầu mối hồ chứa nước Định Bình có vị trí tuyến áp lực tại xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định trên sông Kôn.
Vĩnh Thạnh ở phía Tây của tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn 80 km. Phía Bắc giáp huyện An Lão, phía Đông giáp huyện Phù Cát, phía Nam giáp huyện Tây Sơn và phía Tây giáp thị xã An Khê (tỉnh Gia Lai). - Công trình đập dâng Văn Phong nằm xã Bình Tường, thuộc huyện Tây Sơn, ngay tại trạm thủy văn Cây Muồng sát quốc lộ 19 thuộc huyện Tây Sơn. - Khu tưới Văn Phong nằm trên phần đất của 18 xã thuộc 3 huyện Tây Sơn, Phù Cát, An Nhơn.
Phía Bắc giáp sông La Tinh. Phía Nam giáp sông Kôn. Phía Đông giáp núi Bà. Phía Tây giáp đồi núi các xã Bình Thành, Bình Thuận, Cát Hiệp.
- Khu tưới Vĩnh Thạnh nằm trên phần đất của 2 xã thuộc huyện Vĩnh Thạnh. 5 Phía Bắc giáp đập Định Bình. Phía Nam giáp xã Tây Thuận, huyện Tây Sơn. Phía Đông giáp sông Côn.
Phía Tây giáp sườn Đông dãy Trường Sơn. Hồ chứa nước Định Bình xây dựng trên sông Kôn. Khu vực đầu mối hồ thuộc địa bàn xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Diện tích lưu vực tính đến tuyến công trình F=1.1: Các đặc trưng lưu vực hồ Định Bình Các đặc trưng lưu vực Giá trị Diện tích lưu vực F (Km2) 1.040 Chiều dài sông chính Lsc(Km) 83 Độ dốc lòng suối chính Js (%0) 40 Độ dốc sườn khu vực Jd (%0) 150 MNDBT (m) 91,93 MNC (m) 65 Vc (10 m3) 6 16,28 VMNDBT (106 m3) 226,21 Hình1.1: Sơ đồ vị trị Hồ Định Bình.
Đặc điểm địa hình Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng có địa hình đồi núi cao, các dãy núi phát triển theo hướng Bắc Nam, các đỉnh núi có cao độ 800 – 900m và bị phân cách bới các nhánh suối nhỏ của sông Kôn. Địa mạo khu vực đặc trưng bởi dạng thung lũng mở rộng, với các sườn đồi hai bên khá thoải, kết quả của một quá trình bào mòn, phát triển mạnh cả về chiều thẳng đứng và chiều nằm ngang trên một nền địa chất tương đối tương đối đồng 6 nhất, không có tính phân lớp. Quá trình bào mòn phát triển mạnh dọc theo các hệ thống đứt gãy chính trong vùng. Lớp phủ tàn tích, sản phẩm của quá trình phong hoá đá gốc thường có bề dày lớn từ 5 ÷ 15 m, hoặc hơn.
Dạng địa hình tích tụ chỉ gặp ở dọc sông, các thềm sông thường có bề rộng 50 ÷ 60 m kéo dài hàng trăm mét, Từ phía đập Định Bình về phía phía hạ lưu địa hình tích tụ phát triển mạnh, tạo thành cánh đồng rộng vài km thuộc xã Vĩnh Thịnh. Đặc điểm địa chất Theo các kết quả nghiên cứu địa chất, cấu tạo và kiến tạo mới nhất, nền đá biến chất của địa khối Kon Tum trong vùng công trình bị phân cách bởi hệ thống đứt gãy cấp III chạy dọc theo hướng Bắc- Nam. Đứt gãy lớn nhất gọi là đứt gãy sông Kôn chạy phía bên phải và gần song song với hướng chảy của sông Kôn. Do tác động của đứt gãy này đã kéo theo sự hình thành của một loại đứt gãy nhỏ khác theo hướng tương tự.
Hệ thông đứt gãy thứ hai cáo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Dọc theo các đứt gãy thuộc hệ thống này đã hình thành các khối xâm nhập Granit nhỏ như đã nêu trên. Một đứt gãy thuộc hệ thống này chạy ngang phía hạ lưu vị trí đầu mối Định Bình, và có thể là nguyên nhân chính làm thay đổi hướng chảy của sông Côn ngay phía hạ lưu vị trí dự định xây dựng đập. Do nền địa chất là các lớp đất đá kết tinh và đá xâm nhập liền khối, có tính thấm nước và trữ nước nhỏ, do đó nước ngầm chỉ gặp ở phần trên cùng của nề đá gốc trong đới đá phong hoá nứt nẻ.
Nước ngầm có nguồn bù cấp chính là nước mưa và có hướng vận động về phía sông Kôn và các nhánh của nó. Do lượng mưa trong vùng tương đối cao, khoảng 1700 ÷ 1800 mm/ năm, nên nước ngầm khá dồi dào. Mực nước ngầm tại các sườn đồi nói chung nằm sâu từ 7÷ 15m. Nước mặt tập trung chủ yếu ở sông Kôn và các chi lưu chính như Đắc Sem, Kriêng- Tin.
Dòng chảy hiện tại của sông Kôn phụ thuộc một mặt vào sự làm việc của hồ chứa Vĩnh Sơn, cách vị trí dự định xây dựng đập Định Bình khoảng 20 km về thượng lưu, và vào lưu lượng của các chi lưu nhỏ nằm dưới thuỷ điện Vĩnh Sơn. Điều kiện khí tượng, thủy văn: Bình Định thuộc vùng nhiệt đới ẩm gió mùa. Nhiệt độ trung bình 270C. Lượng mưa trung bình hàng năm trong 5 năm gần đây là 2.
Mùa mưa (từ tháng 8 đến tháng 12) tập trung 70 - 80% lượng mưa cả năm. Mùa mưa trùng với mùa bão nên thường gây ra lũ lụt. Ngược lại mùa nắng kéo dài nên gây hạn hán ở nhiều nơi. Độ ẩm trung bình là 80%.Khí Tượng: - Mạng lưới các yếu tố và thời gian quan trắc khí tượng khu vực và vùng liên quan: Công tác nghiên cứu KTTV trên lưu vực sông Kôn đã được quan tâm từ lâu.
Cho đến nay, tài liệu đo đạc từ mạng lưới trạm trên lưu vực sông Kôn khá đầy đủ, tuy nhiên việc phân bố trạm lại chưa thật hợp lý. 7 Mạng lưới trạm đo mưa trên lưu vực sông Kôn, nhất là vùng hạ du khá dày, nhưng trạm đo thủy văn thì thưa thớt, tài liệu thiếu đồng bộ và đây là một hạn chế trong việc đánh giá nguồn nước của dòng chính sông Kôn.2:Mạng lưới trạm quan trắc các yếu tố khí tượng - thủy văn TT Tên trạm Thời kỳ đo Số năm đo Yếu tố đo Ghi chú 1 Vĩnh Kim 1983-2008 25 X(mm) X(mm): Điểm đo 2 Vĩnh Sơn 1983-2008 25 X(mm) mưa 3 Định Bình 1983-2008 25 X(mm) Trạm thuỷ văn 4 Kbang 1983-2008 25 X(mm) 5 Krong 1983-2008 25 X(mm) 6 An Toàn 1983-2008 25 X(mm) 7 Hoài Ân 1983-2008 25 X(mm) 8 An Khê 1983-2008 25 X(mm) 9 Bình Tường 1983-2008 25 X(H,Q) 10 Quy Nhơn 1983-2008 25 X,V,Z,U Trạm khí tượng -Nhiệt độ không khí (ToC): Nhiệt độ không khí bình quân, cao nhất, thấp nhất các tháng trong năm ghi ở bảng sau.3: Các đặc trưng nhiệt độ của khu vực nghiên cứu. Nhiệt độ bình quân Nhiệt độ cao nhất Nhiệt độ thấp Tháng ( ) ( Tmax) nhất( Tmin) 1 23,1 33,0 15,2 2 23,9 35,4 15,7 3 25,4 38,3 16,4 4 27,3 36,6 19,4 5 28,9 39,7 19,1 6 29,7 40,9 21,7 7 29,8 42,1 20,6 8 29,8 40,9 20,7 9 28,4 39,0 20,5 10 26,8 37,3 17,9 11 25,4 32,9 15,0 12 23,7 31,5 16,1 Năm 26,9 42,1 15,0 8 - Độ ẩm không khí, (u%): Bảng1.4: Các đặc trưng độ ẩm không khí trung bình của khu vực dự án. Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm (%) 84 82 83 83 80 74 71 71 78 83 84 83 200 8 - Số giờ nắng, n (giờ/ ngày): Bảng1.5:Số giờ nắng bình quân ngày các tháng trong năm.6: Vận tốc gió bình quân các tháng trong năm.
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm v (m/s) 2,3 2,0 2,2 2,0 1,7 2,0 1,8 2,0 1,5 2,2 2,8 2,7 2,1 Bảng 1.7: Vận tốc gió mạnh theo các hướng theo tần xuất Pi (%). Pi (%) Trị số VP ( m/s) 2 4 10 Ghi chú Hướng (B), Bắc 26,5 23,6 19,8 (ĐB), Đông -Bắc 20,7 18,8 16,2 (Đ), Đông 16,8 14,3 11,1 (ĐN), Đông Nam 16,2 15,1 13,5 (N), Nam 25,1 21,0 15,8 (TN), Tây – Nam.8:Lượng bốc hơi đo bằng ống Piche Zpic (mm) Thán 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm g Zpic 68, 63, 80, 81, 96, 109, 117, 124, 78, 67, 64, 69, 1022, (mm) 4 4 4 2 2 3 8 8 5 8 8 8 3 Bảng1.9: Lượng bốc hơi mặt nước Znc (mm) Thán 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm g 9 1,2 1,3 1,3 Kh.c 75,9 88,4 87,9 143,9 150,3 170,8 111,4 87,2 1293 8 5 0 0 - Mưa: Lượng mưa trung bình năm trong vùng vào khoảng 1700 ÷ 1800 mm, phân bố thành 2 mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, mùa khô từtháng 1 đến tháng 8. Trong mùa mưa, cường độ mưa lớn thường tập trung vào tháng 10 và tháng 11, chiếm tới 80% lượng mưa cả năm, thường gây lũ lụt.
Mùa khô kéo dài khoảng 8 tháng, lượng mưa chỉ chiếm 20% cả năm, bốc hơi lớn, thường gây ra hạn hán thiếu nước nghiêm trọng.2: Bản đồ đẳng trị mưa của tỉnh Bình Định - Tình hình gió, bão trong vùng * Gió: Vùng lãnh thổ Bình Định chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính, gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hạ có thời gian thịnh hành tương ứng là tháng 1 và tháng 7 hàng năm. Vận tốc gió trung bình là 2,1 m/s, trung bình tháng lớn nhất là 2,8 m/s và nhỏ nhất là 1,5 m/s.