phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục các bảng, danh mục các hình, các phụ lục, …luận văn bao gồm các nội dung chính sau: Chƣơng 1. Tổng quan về ứng dụng viễn thám và GIS trong thành lập bản đồ chuyên đề phục vụ quản lý tổng hợp đới bờ Chƣơng 2. Phƣơng pháp thành lập bản đồ chuyên đề phục vụ QLTHĐB tỉnh Thanh Hóa Chƣơng 3. Bản đồ chuyên đề phục vụ QLTHĐB tỉnh Thanh Hóa 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG VIỄN THÁM VÀ GIS TRONG THÀNH LẬP BẢN ĐỒ CHUYÊN ĐỀ PHỤC VỤ QLTHĐB 1. Khái quát về quản lý tổng hợp đới bờ 1. Định nghĩa về đới bờ Đã có nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà khoa học trong và ngoài nƣớc về đới bờ. Đới bờ có thể đƣợc hiểu nhƣ một không gian bao gồm phần biển ven bờ và phần đất lục địa liền kề, hay là các vùng đất ven biển.
Theo Bách khoa Từ điển về Hải dƣơng học xuất bản tại Mỹ năm 1966, thì đới bờ đƣợc định nghĩa là “Một không gian trải dọc theo đường bờ và có chiều ngang mở rộng về hướng đất liền khoảng 0,5 dặm Anh và về phía biển đến hết biên giới trên biển của quốc gia đó”. Đới bờ thực chất là một hệ thống nhất các nguồn tài nguyên lục địa và đại dƣơng, nó cung cấp không gian sống và các nguồn tài nguyên sinh học và vi sinh học cho con ngƣời. Đến năm 1972 các nhà khoa học trong Hội thảo tại Mỹ về đới bờ đã thống nhất định nghĩa rằng “Đới bờ là một dải lục địa và biển kế cận nhau, có chiều rộng thay đổi. Tại đây, việc sử dụng các hệ sinh thái trên đất liền có ảnh hưởng trực tiếp đến các hệ sinh thái biển và ngược lại”.
Về phía đất liền, đới bờ không có giới hạn cụ thể, nhƣng về phía biển, tùy thuộc vào khả năng quản lý, nó đƣợc mở rộng đến mép thềm lục địa. Ngoài ra còn nhiều khái niệm khác về đới bờ của mỗi quốc gia nhằm định nghĩa một cách tổng quát và phù hợp nhất với đặc điểm đới bờ của mình. Đến năm 1992 tại Rio De Janiero, Hội nghị môi trƣờng và phát triển đã đƣa ra khái niệm về quản lý tổng hợp đới bờ. Theo đó, đới bờ đƣợc hiểu là phạm vi không gian bao gồm vùng biển ven bờ và vùng đất ven biển, là khu vực chuyển tiếp giữa biển và lục địa.
Ở Việt Nam Cục Bảo vệ Môi trường (2003) và Chương trình nghị sự 21 năm 2005 đã nêu: “Vùng bờ là vùng biển ven bờ và đất ven biển có ranh giới phía đất liền là nơi tác động qua lại với biển không còn đáng kể và ranh giới phía biển là nơi mà các hoạt động của con người ảnh hưởng đến”. Trong thực tế, đới bờ đƣợc xác định một cách tƣơng đối, thƣờng phụ thuộc vào ranh giới hành chính, khả năng và mục tiêu quản lý [14] Ranh giới đới bờ thƣờng đƣợc xác định tƣơng đối dựa trên sự kết hợp của 3 yếu tố chính là: - Ranh giới hành chính, các huyện, xã có biển. - Mức độ tác động của các hoạt động kinh tế và dân sinh đến tài nguyên và 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com môi trƣờng biển ven bờ và tác động tƣơng hỗ của các điều kiện tự nhiên vùng bờ đến các hoạt động đó. - Khả năng quản lý của địa phƣơng trong điều kiện hiện nay [14] 1.
Định nghĩa về quản lý tổng hợp đới bờ Vùng bờ và đại dƣơng có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhƣ hải sản, dầu khí, hệ sinh thái biển. Hệ thống tài nguyên biển ở vùng bờ đều thuộc hệ thống tài nguyên chia sẻ, không thuộc riêng một ngành nào. Chính vì tiềm năng đa ngành nên nhiều ngành kinh tế cùng khai thác, sử dụng trên một không gian bờ và đại dƣơng. Cụ thể: Ngành Công thƣơng khai thác dầu khí, cảng biển; Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khai thác thủy sản; ngành Văn hóa – Du lịch - Thể thao khai thác du lịch, danh thắng; ngành Tài nguyên và Môi trƣờng khai thác đất đai.
chƣa kể đến hệ thống ngang là các tỉnh có biển, bờ biển, đảo. Trong khi đó, việc quản lý chỉ dựa trên quản lý đơn ngành mà chƣa có QLTHĐB. Việc quản lý đơn ngành chỉ chú ý đến lợi ích của ngành mình mà không chú ý đến lợi ích của ngành khác, chú trọng mục đích phát triển nhiều hơn là bảo vệ tài nguyên và môi trƣờng, chú trọng khai thác theo hƣớng tăng trƣởng kinh tế nhiều hơn là theo hƣớng kế hoạch hóa. Điều này làm mâu thuẫn về lợi ích giữa ngành này với ngành khác trong việc sử dụng hệ thống tài nguyên ở vùng bờ, đại dƣơng và biển ngày càng tăng.
Hậu quả là một loạt các vấn đề về môi trƣờng biển và sử dụng kém hiệu quả tài nguyên biển đang diễn ra [25] Quản lý tổng hợp đới bờ cho đến nay đƣợc thừa nhận là phƣơng pháp tiếp cận thích hợp nhất để giải quyết các vấn đề môi trƣờng và phát triển ở các vùng bờ hiện tại và trong tƣơng lai. Quản lý tổng hợp đới bờ đã thay thế một cách hiệu quả cho các phƣơng thức quản lý truyền thống trƣớc đây trên hầu khắp các quốc gia giáp biển trong công tác quy hoạch và sử dụng đới bờ. Tại Hội nghị Quốc tế về đới bờ, quản lý tổng hợp đới bờ đƣợc định nghĩa: “Quản lý tổng hợp đới bờ bao gồm việc đánh giá toàn diện, đặt ra các mục tiêu, quy hoạch và quản lý các hệ thống tài nguyên ven biển, có xét đến các yếu tố lịch sử, văn hoá và truyền thống, các lợi ích trong mâu thuẫn sử dụng; là quá trình liên tục tiến triển nhằm đạt được sự phát triển bền vững”. Quản lý tổng hợp đới bờ còn phác thảo kết hợp các luật, chính sách có ảnh hƣởng đến vùng bờ khác nhau, nhằm đem lại sự hợp tác giữa các địa phƣơng, vùng miền và giữa các quốc gia.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quản lý tổng hợp đới bờ không chỉ là những chính sách về môi trƣờng đơn thuần, mà còn nhằm đạt đƣợc sự phát triển bền vững về kinh tế xã hội ở các vùng ven biển và giúp phát triển toàn diện các tiềm năng nhƣ những cộng đồng mạnh, đa dạng và hiện đại. Nội dung phương pháp thực hiện và nghiên cứu QLTHĐB a. Các phƣơng pháp tiếp cận: - Tiếp cận hệ thống Đới bờ là một hệ thống tự nhiên - xã hội có quan hệ chặt chẽ với nhau, mọi biến động của từng thành phần trong hệ thống đều có tác động đến các thành phần khác. Tài nguyên, môi trƣờng đới bờ là sản phẩm của quá trình tƣơng tác lục địa - biển, sông - biển, khí quyển - biển, giữa các địa quyển với sinh quyển.
Đới bờ là hệ thống phức tạp, nhạy cảm với các tác động tự nhiên và nhân sinh, biến động nhanh theo cả không gian và thời gian. Theo cách tiếp cận này, việc nghiên cứu quản lý tổng hợp đới bờ phải đƣợc tiến hành đồng bộ, hệ thống, toàn diện. Việc sử dụng bảo vệ tài nguyên, điều kiện môi trƣờng phải tính đến không chỉ các yếu tố nội tại mà còn các yếu tố bên ngoài (vùng lân cận). - Tiếp cận về phát triển bền vững Phát triển bền vững là phát triển nhằm thoả mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm phƣơng hại tới sự đáp ứng nhu cầu của thế hệ tƣơng lai.
PTBV đới bờ là sử dụng hợp lý tiềm năng về tài nguyên, môi trƣờng, điều kiện tự nhiên trong giới hạn cho phép, trong khả năng chịu đựng, tự phục hồi của đới bờ nhằm phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội đáp ứng nhu cầu của thế hệ hiện tại mà vẫn đảm bảo cho các thế hệ tƣơng lai những điều kiện tài nguyên và môi trƣờng cần thiết để họ có thể sống tốt hơn ngày nay. Đới bờ đƣợc coi là khu vực có tài nguyên quan trọng đối với phát triển kinh tế (với tƣ cách là nguồn nguyên, nhiên liệu, địa bàn hoạt động.), đối với sự bền vững về môi trƣờng (đới bờ là một bộ phận của môi trƣờng sống của con ngƣời và thế giới sinh vật, nơi chứa đựng và phân huỷ chất thải, nơi cung cấp tài nguyên phong phú), bền vững về mặt xã hội (đới bờ gắn liền với sự phát triển văn hoá, phong tục, tập quán sinh hoạt và sản xuất; là nơi xảy ra các xung đột môi trƣờng; là nơi góp phần xoá đói, giảm nghèo đối với ngƣời dân …). Mặt khác, các hoạt động kinh tế, xã hội phải nằm trong giới hạn cho phép của các hệ sinh thái đới bờ (các chức năng, giá trị và đa dạng sinh học của vũng vịnh phải đƣợc duy trì). Nhƣ vậy PTBV và bảo tồn, bảo vệ đới bờ có mối quan hệ “sinh - tử”.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tiếp cận tích hợp và liên ngành Bản chất tài nguyên, chức năng môi trƣờng đới bờ vừa phản ánh lại vừa phụ thuộc các yếu tố tự nhiên, các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hoá, chính trị. Đới bờ phải đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau về tự nhiên (sinh học, sinh thái, địa lý, hải văn, thuỷ văn, địa chất.), về xã hội (văn hoá, phong tục, tập quán, xung đột môi trƣờng), kinh tế, về an ninh quốc phòng. Do đó, để nghiên cứu quản lý tổng hợp đới bờ cần phải dựa vào sự tích hợp các chuyên ngành, sự phối hợp các chuyên gia thuộc nhiều ngành khoa học công nghệ khác nhau nhƣ khoa học tự nhiên (sinh học, các ngành khoa học trái đất, thủy sản, giao thông,.), khoa học xã hội và nhân văn (kinh tế, luật, quản lý, môi trƣờng. ), của các Bộ, ngành khác nhau.
- Tiếp cận sinh thái học Đới bờ là hệ sinh thái mỏng manh, dễ bị tổn thƣơng, có sức chịu đựng giới hạn, phụ thuộc nhiều vào các quá trình tự nhiên và đặc biệt nhạy cảm với các hoạt động nhân sinh. Đa dạng sinh cảnh nói riêng, điều kiện tự nhiên nói chung là cơ sở cho hình thành và tồn tại của đa dạng sinh học (đa dạng gen, loài và hệ sinh thái) và tiềm năng tự nhiên của đới bờ. Mặt khác, cân bằng sinh thái đảm bảo duy trì các chức năng, giá trị, bảo vệ đƣợc tài nguyên và môi trƣờng của đới bờ cũng là mục tiêu của PTBV. Để đạt mục tiêu này, mọi hoạt động về khai thác, sử dụng đới bờ phải đƣợc tiến hành ở trong khả năng chịu đựng và phục hồi của hệ sinh thái.