CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ DẠY HỌC TRỰC TUYẾN 1. Giới thiệu chung Tùy thuộc vào nhận thức, quan niệm, góc nhìn của mỗi người, có nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ "học trực tuyến" trong mối liên hệ với các thuật ngữ gần như học tập điện tử, elearning, học qua mạng. Học tập trực tuyến thường phải gắn liền với các nền tảng công nghệ chuyên nghiệp, được phát triển với mục đích chuyên biệt dành riêng cho học trực tuyến, đó là các hệ thống như VLE (virtual learning environment) hay LMS/LCMS (learning management system/learning content management system), cho phép tích hợp mọi hoạt động dạy – học của giáo viên và học sinh.
Một số nền tảng phổ biến hiện nay như Blackboard learn, Dokeos hay Moodle, Claroline, Canvas, Open edX… Trong đó các hoạt động dạy, học được thiết kế khoa học, đồng bộ từ thông tin khóa học, kế hoạch học tập đến học liệu, diễn đàn, đánh giá, cấp chứng chỉ, hỗ trợ tối đa cho người học tự học (gồm cả chức năng trao đổi trực tuyến với giảng viên). Thực tế ở nước ta, để phục vụ mục đích học tập giáo viên đang sử dụng phối hợp nhiều giải pháp công nghệ khác nhau trên môi trường mạng. Đó có thể là các giải pháp hỗ trợ dạy học trực tuyến cơ bản (như G-Suit for Education, Office 365 Education), công nghệ họp trực tuyến (như zoom, Microsoft teams, hangout meet …), các mạng xã hội như Facebook, Zalo, Viber, hay đơn giản chỉ là giao bài và chữa bài tập qua thư điện tử (các giải pháp công nghệ này vốn dĩ khi thiết kế không dành chuyên cho mục đích dạy học). Việc phối hợp các công cụ khác nhau với các mức độ khác nhau như vậy để dạy- học qua mạng nên khó có thể gọi tên một cách thật chính xác thuật ngữ học trực tuyến hiện nay.
Với quan niệm như vậy, có thể tạm chia học trực tuyến ở nước ta thành 2 nhóm chủ yếu gồm nhóm giải pháp dạy học trực tuyến đồng thời theo thời gian thực (synchronous learning) và nhóm giải pháp dạy học trực tuyến không đồng thời (asynchronous learning): Dạy học trực tuyến đồng thời là giải pháp cho phép người dạy và người học tương tác thời gian thực đồng thời tham gia thảo luận (dạy - học) cùng một nội dung tại cùng một thời điểm. Các hoạt động giáo dục trên lớp học truyền thống có thể triển khai qua mạng bởi các ứng dụng loại này, điển hình là các giải pháp hội nghị trực tuyến (video - conferencing, web-based conferencing, online meeting). Hầu hết các giải pháp này hiện 5 nay đều đến từ các công ty nước ngoài như Google Hangout meet, Microsoft Teams, Zoom, Amazon, Jitsi… Dạy học trực tuyến không đồng thời là giải pháp có tính tổng thể cao để tổ chức và quản lý các hoạt động dạy - học trực tuyến; giúp giáo viên chuẩn bị nội dung bài giảng, học liệu điện tử trên hệ thống LMS/LCMS và hướng dẫn để học sinh đăng nhập tự học; học sinh có thể tham gia vào bài học mọi lúc mọi nơi. Bên cạnh các giải pháp của nước ngoài, trong nước hiện nay có các giải pháp của Viettel (Viettelstudy), VNPT (Vnptedu), FPT, AIC Group, Smart School, Big School, Đại học Sư phạm Hà Nội (olm.
Thực tế thì đây là các giải pháp kết hợp cả dạy - học đồng thời và không đồng thời (như olm, viettelstudy, vnptedu đều cho phép tích hợp ứng dụng zoom). Các giai đoạn lịch sử của việc dạy học online Học online (E-learning) là thuật ngữ quen thuộc trong thời gian gần đây. Các phương pháp giáo dục ngày càng đa dạng, ngoài cách dạy truyền thống được thực hiện tại lớp học còn có hình thức học qua internet. Học online đã được áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Tập đoàn dữ liệu quốc tế (IDG) nhận định sẽ có một sự bùng nổ trong lĩnh vực E-learning và điều đó đã được chứng minh qua sự thành công của các nước có hệ thống giáo dục hiện đại sử dụng phương pháp E-learning như Hoa Kỳ, Anh, Nhật Bản,… Quá trình phát triển của phương pháp học online có thể chia làm bốn giai đoạn: - Trước năm 1983: giai đoạn này chưa sử dụng máy tính phổ biến. Học viên chỉ trao đổi qua giảng viên và các bạn học. Loại hình này có giá thành đào tạo khá rẻ. - Giai đoạn 1984-1993: sự ra đợi hệ điều hành Windows 3.1, máy tính, phần mềm trình diễn powerpoint cùng với các công cụ đa phương tiện khác đã mở ra một kỉ nguyên mới, kỉ nguyên đa phương tiện.
Những công cụ này cho pháp bài giảng có tích hợp hình ảnh và âm thanh dựa trên công nghệ CBT (computer based training). - Giai đoạn 1994-1999: khi công nghệ web được phát minh, phương pháp dạy học online được các nhà cung cấp dịch vụ đào tạo nghiên cứu cách thức cải tiến. Người thầy đã bắt đầu sử dụng các phương tiện email, internet với text và hình ảnh đơn giản, đào tạo bằng công nghệ WEB với hình ảnh chuyển động thấp được triển khai trên diện rộng. - Giai đoạn 2000-2005: các công nghệ tiên tiến bao gồm JAVA và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và cài băng thông qua internet được nâng cao, các 6 công nghệ thiết kế web tiên tiến trở thành một cuộc cách mạng trong giáo dục và đạo tạo.
Giáo viên có thể tạo bài giảng sinh động với hình ảnh, âm thaanh thông qua web để truyền tải đến người học. E-learning có giá thành rẻ, tiết kiệm thời gian cũng như chi phí nên sự phát triển của phương pháp học này trở nên mạnh mẽ. Ở Việt Nam, phương pháp này cũng được một số tổ chức đào tạo áp dụng. Trên mạng internet có hàng trăm trang web cung cấp dịch vụ đào tạo theo hô hình E-leraning, ví dụ như dịch vụ luyện thi trực tuyến trên mạng, trung tâm đào tạo kỹ thuật viên trên mạng CISCO.
Trường Đại học Mở Hà Nội là trường đi đầu trong việc tổ chức đào tạo đại học từ xa, các trường Đại học lớn trong cả nước cũng đã bắt đầu xây dựng các bài giảng điện tử đưa lên trang web của trường [3]. Những lợi ích của việc học trực tuyến - Giảng viên và sinh viên có thể sắp xếp thời gian thích hợp cho mình, linh hoạt trong một khoảng thời gian nhất định. - Tiết kiệm được chi phí so với khóa học chính thức. Khóa học trực tuyến không đòi hỏi về cơ sở hạ tầng, số lượng giảng viên hoặc sinh viên.
- Trong quá tình học tập, sinh viên có thể kiểm soát được quá trình học tập của mình cũng như đánh giá bài giảng thông qua các công cụ đánh giá có sẵn, từ đó nhanh chóng đưa ra các biện pháp hỗ trợ tốt hơn. - Các bài giảng trực tuyến đều được lưu lại. Vì vậy, sinh viên có điều kiện ôn tập dễ dàng hơn. - Tài liệu học phong phú, đa dạng thông qua các bài giảng, bài tập.
Các tài liệu được giảng viên biên soạn một cách hệ thống từ cơ bản đến nâng cao giúp sinh viên có sự lựa chọn trình độ phù hợp với khả năng của mình. - Sinh viên có thể học ở bất cư đâu và bất cứ lúc nào, chỉ cần có một máy tính được kết nối internet, được đăng kí tài khoản người học. - Việc học online còn là phương pháp giúp giải quyết được khó khăn của việc không thể đến trường như trong thời gian dịch bệnh. Hệ thống giáo dục Châu Á đã chuẩn bị chiến lược đầu tư dạy và học online bằng các chiến lược rõ ràng cách đây khoảng 20 năm và đã chuyển sang cấp chiến lược chiều sâu cho đến thời điểm hiện nay.
Việt Nam cũng đã có nhiều bước đi tiên phong về mặt Luật và các chính sách ban hành và đang có những chuyển động mạnh mẽ với kỳ vọng nâng 7 cao việc tập trung nguồn lực tri thức và năng lực tiếp cận tri thức cho tất cả mọi người theo phương châm học tập suốt đời [2]. Tuy vậy các chiến lược hỗ trợ hệ thống giáo dục có yếu tố CNTT&TT mang tính đột phá và trọng tâm cần phải được định hướng ở cấp quốc gia thì mới kỳ vọng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng kỹ năng thế kỷ 21 góp phần nâng cao tính sáng tạo và năng suất quốc gia. Do vậy cần phải có chiến lược như là: Thứ nhất, cần có các dự án mang tính hệ thống đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT&TT trong các cơ sở giáo dục; cụ thể, đó là nền tảng kỹ thuật số cho dạy và học trực tuyến, các tài nguyên số phục vụ cho chương trình đào tạo và cộng đồng học tập trực tuyến tại mỗi cơ sở giáo dục nói riêng và cho cả hệ thống giáo dục nói chung. Thứ hai, cần có một hành lang pháp lý từ Bộ GDĐT về việc tích hợp CNTT&TT trong chương trình đào tạo tại cơ sở giáo dục; cụ thể, đó là xây dựng các kế hoạch phổ cập kiến thức CNTT&TT như một phần của chương trình đào tạo, cung cấp các chương trình/khóa đào tạo CNTT&TT, quy định tỷ trọng thời gian học có ứng dụng CNTT, khuyến khích người dạy ứng dụng CNTT vào chương trình đào tạo, và phát triển sách giáo khoa điện tử phục vụ giáo dục trực tuyến.
Thứ ba, cần có các đề án cụ thể khuyến khích các cơ sở giáo dục gắn kết các yếu tố của học trực tuyến vào quá trình đánh giá kết quả học tập của người học; cụ thể, đó là xây dựng các tiêu chuẩn CNTT cơ bản mà người học cần đạt được, và bồi dưỡng người học ứng dụng CNTT trong học tập. Thứ tư, cần có các chính sách khuyến khích các đơn vị CNTT&TT phối hợp với các cơ sở giáo dục phát triển chuyên môn CNTT cho người dạy; cụ thể, đó là cung cấp các chương trình/khóa đào tạo CNTT cho giáo viên/giảng viên, áp dụng tiếp cận đồng giảng có sự tham gia các nhân sự kỹ thuật CNTT trong đào tạo giáo viên/giảng viên, và thiết lập các tiêu chuẩn CNTT cơ bản cho giáo viên/giảng viên. Thứ năm, cần nâng cao vai trò lãnh đạo của cơ sở giáo dục và người dạy trong giáo dục trực tuyến; cụ thể, đó là tăng cường sự lãnh đạo của cơ sở giáo dục trong việc dạy-học-thi-quản trị trực tuyến, hỗ trợ các chương trình thí điểm giáo dục trực tuyến, phát triển các khóa đào tạo giúp người dạy làm chủ quá trình dạy và học trực tuyến, thúc đẩy các nghiên cứu về giáo dục trực tuyến, tài trợ các trung tâm nghiên cứu về giáo dục trực tuyến, và xây dựng các kế hoạch giáo dục trực tuyến tại trường. Yêu cầu, nguyên tắc xây dựng bài giảng trực tuyến 8 1.
Yêu cầu chung Nội dung bài giảng bám sát đề cương chi tiết đã được phê duyệt.