mở đầu cho đoạn văn, hãy viết tiếp các câu khác để tạo thành một đoạn văn, sao cho các câu sau,phát triển đượcý của câu đầu và liên kết chặt chế: Ngày nay, uiệc bảo uệ môi trường sống của con người là một 'uấn dé ddng quan tam. Bai tap 10 Dự kiến về viée huéng din cho HS lép 7 lam bai tap sau đây: Tìm trạng ngữ trong phần trích sau đây: Chúng ta có thể khẳng định rằng: cấu tạo của tiếng Việt, Lới hủ năng thích ứng uới hoàn cảnh lịch sử như chúng ta uữu nói trên đây, là một chúng cứ khá rõ vé sức sống của nó. CHUA CAU SAI 1. Câu sai về cấu tạo ngữ pháp Khi đặt câu, mỗi người cần huy động các từ ngữ cần thiết, đồng thời căn cứ vào các quy tắc ngữ pháp mà cộng đồng ngôn ngữ đã chấp nhận để cấu tạo các câu, đáp ứng các nhiệm vụ giao tiếp.
Các câu tuy rất đa dạng về nội dung ngữ nghĩa, về các từ ngữ cụ thể. nhưng đều phải dựa trên các quy tắc ngữ pháp chung. Nếu câu không đáp ứng những yêu cầu về cấu tạo ngữ pháp theo các quy tắc đó thì câu sẽ sai. Những trường hợp sai về cấu tạo ngữ pháp thường gặp là: 1.
Câu thiếu thành phần nòng cốt Bình thường, câu phải có thành phần nòng cốt là chủ ngữ và vị ngữ. Câu có thể vắng hai thành phần này trong những điều kiện ngữ cảnh nhất định, khi đó, ngữ cảnh giúp cho người đọc hay người nghe hiểu chính xác và khôi phục chính xác các thành phần vắng mặt. Nếu không, việc thiếu các thành phần nòng cốt không biểu hiện được đầy đủ và chính xác nội dung biểu đạt. - Câu thiếu vị ngữ: Vi du: (1) Lòng tin sâu sắc của những thế hệ cha anh uào lực lượng măng non Uà xung kích sẽ tiếp bước mình.
(2) Hình ảnh người dũng sĩ mặc áo giáp sắt, đội mũ sắt, cưởi ngựa sat, nung gậy sắt, xông thẳng uào quân thù. / 6 những “câu” này, câu mới chỉ có phần phát triển nội dung cho một danh từ đầu câu, mà vẫn chưa có vị ngữ. Muốn cho đúng, cần bổ sung các từ ngữ đóng vai trò vị ngữ. Chẳng hạn: Œ) Lòng tin.
tiếp bước mình là nguồn cổ uũ thế hệ trẻ tiến lên. xông thẳng vào quân thù đã gây nên những ấn tượng mạnh mẽ. - Câu thiếu chủ ngữ: Ví dụ: Qua tác phẩm “Tút đèn" cho ta thấy hình ảnh người phụ nữ nông dan trong chế độ cũ. £134 Câu này thiếu chủ ngữ.
Có thể chữa bằng cách thêm từ làm chủ ngữ cho câu. Chẳng hạn: Qua tác phẩm “Tắt đèn”, Ngô Tất Tố cho ta thấy hình ảnh người phụ nữ nông dân trong chế độ cũ. Lỗi trong trường hợp này còn có thể do người viết không phân định rõ các thành phần câu (xem dưới đây). - Câu thiếu cả chủ ngữ và vị ngữ: Ví dụ: “Từ những chị dân quân ngày đêm canh giữ đồng quê uà bầu trời Tổ quốc, đến những bà mẹ chèo đồ anh dũng trên các dòng sông đẩy bom đạn”.
Những câu như thế này mới chỉ có bộ phận tương đương với thành phần trạng ngữ mà chưa có chủ ngữ và vị ngữ. Cân chữa lại bằng cách thêm các từ đóng vai chủ ngữ và vị ngữ. Chẳng hạn: Từ những chị dân quân. trên đồng sông đây bom đạn, đất cả đều biểu lộ tỉnh thân chiến đấu bất khuất, kiên cường.
- Câu ghép thiếu vế câu: Có những câu có đấu hiệu hình thức của câu ghép (các từ quan hệ) nhưng thiếu vế câu. Việc thiếu vế câu trong câu ghép cũng dẫn đến hậu quả tương tự như việc thiếu thành phần nồng cốt trong câu đơn: Câu không thể diễn đạt được rõ ràng và chính xác nội dung mà người viết định biểu hiện. Ví dụ: (1 Mặc dẫu trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, họ gặp bao nhiêu khó khăn gian khổ uê vat chất, gắp bao nhiêu luận điệu xảo trá nham hiểm của bê thù nhằm phá hoại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. (8) Cũng chính bồi những tư tưởng chưa thông suối ấy gây cho chúng ta một số khó khăn.
Ở những ví dụ này, ngoài những lỗi về dùng từ, có lỗi về cấu tạo câu. Các câu này đều có đấu hiệu của câu ghép (mặc đầu, bởi) nhưng không có đủ các vế câu. Cách chữa: 185 2 + Thêm các vế câu phù hợp quan hệ ý nghĩa và có thể dùng các quan hệ từ thành cặp. Chẳng hạn: “Mặc dầu trong công cuộc xây dựng CNXH, họ gặp bao nhiêu khó khăn gian khổ về vật chất, bị bao nhiêu điều xảo trá, nham hiểm của kẻ thù xuyên tạc hòng phá hoại công cuộc đó, nhưng họ uẫn uững tin ở thẳng lợi.” + Chuyển vế câu đã viết thành câu đơn bằng cách bỏ quan hệ từ và chữa các lỗi về từ.
Chẳng hạn: Trong công cuộc xây dựng CNXH, họ gặp bao nhiêu khó khăn gian khổ về vật chất, bị bao luận điệu xảo trá, nham hiểm của kẻ thù xuyên tạc hòng phá hoại công cuộc đó. Trên đây là những trường hợp các câu sai thường gặp do thiếu các thành phần cần thiết, Cần phân biệt những câu sai loại này với những câu tỉnh lược thành phần. Câu tỉnh lược thành phần là câu đúng: Tuy vắng mặt thành phần nào đó nhưng ngữ cảnh là cơ sở để câu được lĩnh hội đúng và khi cần, người ta có thể khôi phục chính xác thành phần vắng mặt đó. Ví dụ: “Tỉnh thần yêu nước cũng như các thứ của quý.
Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm”. Hai câu sau đều có hiện tượng tỉnh lược C. Nhưng dựa vào ngữ cảnh, ta vẫn hiểu chính xác nội dụng của hai câu này và có thể khôi phục chính xác.
Chẳng hạn: Tỉnh thần yêu nước cũng như các thứ của quý. Có khi nó được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê rõ ràng dễ thấy. Nhưng cũng có khi người ta cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm. Câu không phân dịnh mạch lạc các thành phần câu Trong thực tế viết văn bản, có những trường hợp do người viết nhận thức không rõ ràng nội dung vấn để định trình bày, hoặc do tư duy rối, ca thiếu mạch lạc, đồng thời cũng do trình độ diễn đạt bằng ngôn ngữ còn yếu, nên đã tạo ra những câu văn không phân định mạch lạc các thành phần câu.
Thường gặp hơn cả là việc không phân định rõ trạng ngữ và chủ ngữ. Hai thành phần này đều thường ở đầu câu nên người viết dễ “đập nhập” làm một. Câu văn vì thế ling cling, tối nghĩa. Ví dụ: (1U Qua bản báo cáo của ông cho chúng ta thấy tình hình sản xuất trong xí nghiệp còn nhiều khó khăn.
(9) Sống trong cái xã hội đây bất công như uậy đã giúp cho ông thấu hiểu được sự đau khổ của quân chúng nhân dân. Cách chữa: Phân định cho rõ các thành phần câu: Với câu (1) có thể có những cách chữa sau đây: + Bỏ từ “qua” đầu câu; lúc đó “Bản báo cáo của anh ấy” là chủ ngữ (Ơ) phần còn lại là vị ngữ (V). + Bồ từ “của”: lúc đó “Qua bản báo cáo” là trạng ngữ, “ông ấy” là C, phần còn lại là V. ngữ, + Bỏ từ “cho”: Lúc đó, “Qua bản báo cáo của ông ấy” là trạng “chúng ta” là C, phần còn lại là.
Câu (2) trên đây có hai cách chữa: + Cấu tạo rõ chủ ngữ bằng cách biến đổi cụm từ đầu câu thành cụm đã giúp cho danh từ: “Cuộc sống trong cái xã hội đẩy bất công như vậy ông thấu hiểu. đầy + Bỏ các từ “đã giúp cho”, lúc đó cụm từ “Sống trong cái xã hội bất cộng như vậy” làm trạng ngũ, “ông” làm €, phần còn lại là V. phần Có những trường hợp người viết không phân định rõ các thành muống”, khác của câu. Do đó, tạo nên những câu văn rối, “dây cà dây không mạch lạc, sắng ý.
giải Trong ví dụ sau đây, người viết không phân định rõ thành phần thích và thành phần được giải thích: “Thúy Kiểu là nhân vật tiêu biểu nhất cho Truyện Kiểu của Nguyễn phản Du đã mô tả một cách sâu sắc xã hội phong kiến thối nát, đã tố cáo, dap lén van kháng uà phê phán những thủ đoạn tàn nhân, bất công chà mệnh của con người lương thiện”. 13/ ° (Phan in nghiêng là phần giải thích nhưng không được phân định rõ với phần đi trước), , Chita: “Thuy Kiéu la nhan vật tiêu biểu nhất cho Truyện Kiêu của Nguyễn Du, một đức phẩm đã mô tả. người lươn g thiện”. Cùng loại với những câu sai do không phân định mạch lạc các thành phần câu nhưng ở mức độ rối rắm hơn, là những câu sai mà các bộ phận của nó khó có thể xác định được quan hệ ý nghĩa một cách minh bạch.
Việc chữa các câu loại này trước hết là việc xác định cho rõ các quan ý nghĩa, sau đó cần dùng các phương hệ tiện như quan hệ từ, đấu câu để thể hiện cho rõ tàng và chính xác quan hệ giữa các bộ phận câu. Ví dụ: (1) “Nhà nước thống nhất quản lí nên bình tế quốc dân bằng pháp luật, kế hoạch chính sách phân công trách nhiệm uà phân cấp quản lí hà nước giữa các ngành các cấp kết hợp uới lợi ích củu thể cá nhôn của tập uới lợi ích của Nhà nước”. Có thể chữa lại theo cách phân định rõ các bộ phận trong câu và thể hiện rõ quan hệ của chúng như sau: “Nhà nước thống nhất quản lí nền kinh tế quốc dân bằng pháp luật, bằng kế hoạch, bểng chính sách phân công trách nhiệm và phân cấp quản lí giữa các ngành các cấp, đồng thời quản lí theo nguyên tắc kết hợp lợi ích của cá nhân, của tập thể với lợi ích của Nhà nước”. (2) Qua cuộc đời uà Sự nghiệp uăn thơ của Nguyễn Trãi cho chúng ta thấy ông có lòng yêu nước căm thù giặc sâu sắc, uới tất cả oì đất nước oì nhân dân ông nghĩ như vay mà nguyện hết lòng hốt sức cứu nước giúp dân uổi cuộc đời thơ oăn của ông là uũ khí sắc bén quân thù đã phải khiếp sợ uà mãi mãi lưu truyền trong lịch sử đất nước ta.
Sửa chữa câu trên sao cho nội dung mà người viết định biểu hiện vẫn g1ữ được ở mức tối đa, nhưng câu và đoạn văn cần đạt được sự trong sáng, mạch lạc, Chẳng hạn, có thể sửa như sau: Cuộc đời và sự nghiệp văn thơ của Nguyễn Trãi cho chúng ta thấy ông có lòng yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Ông nguyện hết lòng hết SỨc cứu nước giúp dân.