Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ A. Mục tiêu học tập: * Về kiến thức: sau khi học xong chương này sinh viên có khả năng - Nắm được khái niệm về kiểm soát nội bộ - Nhận biết được tổng quan về báo cáo COSO 2013 - Nắm được được bản chất và vai trò của năm thành phần của kiểm soát nội bộ - Hiểu rõ được những nguyên tắc để xây dựng nên từng thành phần của kiểm soát nội bộ * Về kỹ năng: Chứng tỏ được khả năng phân tích năm thành phần của kiểm soát nội bộ trong các doanh nghiệp * Về năng lực tự chủ trách nhiệm: Dự lớp đầy đủ; hoàn thành đầy đủ các bài tập được giao, chuẩn bị bài trước khi đến lớp; tích cực tham gia các hoạt động ở lớp. Có thái độ nghiêm túc và chăm chỉ trong học tập; cố gắng áp dụng các kiến thức trong học tập vào thực tiễn. Chuẩn bị: * Sinh viên - Nghe giảng và đọc tài liệu để nắm bắt các nội dung chính - Làm bài tập tình huống và luyện các câu hỏi trắc nghiệm theo yêu cầu cuối chương - Liên hệ và lấy các ví dụ trong thực tế để minh họa cho nội dung bài học - Cập nhật những thông tin về kinh tế xã hội trên báo, đài, ti vi, mạng internet để hiểu hơn về kiểm soát nội bộ *Giảng viên: - Thiết bị: bảng, phấn hoặc máy chiếu - Giáo trình: Kiểm soát nội bộ, PGS.TS Trần Thị Giang Tân, NXB Lao động năm 2021 - Tài liệu tham khảo: Kiểm soát nội bộ, PGS.TS Nguyễn Hữu Ánh, NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân năm 2021 C.
Phương pháp: - Sử dụng phương pháp thuyết trình, phát vấn người học D. ĐỊNH NGHĨA KIỂM SOÁT NỘI BỘ Hiện nay, theo các góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu có nhiều quan điểm khác nhau về kiểm soát nội bộ. Theo Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC), Kiểm soát nội bộ là một hệ thống các chính sách, các thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm đảm bảo độ tin cậy các thông tin, việc thực hiện các chế độ pháp luật và hiệu quả hoạt động. Theo Hiệp hội Kế toán viên Công chứng Hoa kỳ (AICPA), Kiểm soát nội bộ là các biện pháp, cách thức được chấp nhận thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền, các tài sản khác và kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách.
Theo Luật kế toán số 88/2015/QH13 ban hành ngày 20/11/2015, Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt nam số 315 (VSA 315), Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan Theo báo cáo COSO 2013 (Ủy ban Chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính), Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động. - Sự tin cậy của BCTC. - Sự tuân thủ pháp luật và các quy định. 3 Quá Sự hữu hiệu và Hội trình hiệu quả các hoạt đồng động quản trị Con Mục người Nhà Kiểm soát nội Sự tin cậy của tiêu quản lý bộ Báo cáo tài chính Sự tuân thủ pháp Các Bảo luật và quy định nhân đảm viên hợp lý Sơ đồ 1-1.
Khái niệm kiểm soát nội bộ Như vậy, có thể khái quát một khái niệm chung nhất về kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi hội đồng quản trị, nhà quản lý và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ” Trong định nghĩa trên có 4 khái niệm quan trọng cần lưu ý đó là quá trình, con người, đảm bảo hợp lý và mục tiêu KSNB là một quá trình: KSNB không phải một sự kiện hay tình huống mà là một chuỗi các hoạt động hiện diện trong mọi bộ phận, gắn chặt với các hoạt động của đơn vị và là nội dung cơ bản trong hoạt động của đơn vị. KSNB bị chi phối bởi con người: KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người. Cụ thể là Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhà quản lý và các nhân viên trong đơn vị. KSNB là công cụ được nhà quản lý sử dụng, không thay thế được yếu tố con người.
Mỗi con người trong tổ chức có khả năng, kiến thức, kinh nghiệm, nhu cầu khác nhau nên việc trao đổi, hành động không nhất quán. Để KSNB hữu hiệu, mỗi cá nhân cần hiểu rõ quyền hạn, trách nhiệm của mình đồng thời xác định rõ mối liên hệ, nhiệm vụ của các thành viên khác để cùng đạt mục tiêu chung của tổ chức. KSNB cung cấp sự đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho nhà quản lý trong việc đạt mục tiêu tổ chức, không thể đảm bảo tuyệt đối. Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân chính: - Hạn chế tiềm tàng trong quá trình xây dựng, vận hành KSNB tại DN.
Ví dụ: quyết định sai lầm của con người trong các tình huống đặc biệt, sự thông đồng giữa các cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý. KSNB có thể 4 ngăn chặn và phát hiện những sai phạm nhưng không thể đảm bảo là chúng không bao giờ xảy ra. - Đảm bảo nguyên tắc cân bằng giữa chi phí xây dựng KSNB và lợi ích đạt được. Do đó, tuy người quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng chi phí cho quá trình kiểm soát quá cao, họ vẫn không áp dụng các thủ tục để kiểm soát rủi ro đó.
KSNB giúp đơn vị đạt được các mục tiêu: Mỗi tổ chức, DN đều xác định mục tiêu kiểm soát để từ đó xây dựng các chiến lược cần thực hiện. Mục tiêu kiểm soát bao gồm mục tiêu chung cho toàn DN, mục tiêu cụ thể cho từng bộ phận, mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động. Có thể chia mục tiêu kiểm soát DN cần thiết lập thành ba nhóm: - Nhóm mục tiêu hoạt động: nhấn mạnh đến sự hữu hiệu, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực, bảo mật thông tin, thực hiện các chiến lược kinh doanh của đơn vị. - Nhóm mục tiêu về báo cáo: bao gồm báo cáo tài chính và phi tài chính mà đơn vị cung cấp cho các đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị, nhấn mạnh đến tính đáng tin cậy, kịp thời, minh bạch và các tiêu chuẩn chất lượn khác của các báo cáo.
- Nhóm mục tiêu về sự tuân thủ: nhấn mạnh đến việc tuân thủ pháp luật và các quy định của nhà nước. Ngoài ra, KSNB còn hướng các thành viên tuân thủ quy định, chính sách nội bộ DN 1. BÁO CÁO COSO VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1. Khái quát về Báo cáo COSO Báo cáo COSO (sau đây gọi tắt là Báo cáo) là kết quả của một dự án được thực hiện qua bảy giai đoạn như sau: Hình 1-1.
Quá trình xây dựng báo cáo COSO 5 - Năm 1985, Uỷ ban COSO ra đời dưới sự bảo trợ của năm tổ chức nghề nghiệp, bao gồm Hiệp hội kế toán công chứng Hoa Kỳ, Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ, Hiệp hội quản trị viên tài chính, Hiệp hội Kế toán viên quản trị, Hiệp hội KTV nội bộ. - Năm 1992, Coso phát hành báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết về KSNB một cách đầy đủ, có hệ thống. - Báo cáo COSO năm 2004 đã nghiên cứu sâu về hướng quản trị DN, hướng tới quản trị rủi ro DN. - Năm 2013, Ủy ban COSO đã ban hành chính thức bản cập nhật Báo cáo COSO 1992, là sự thay đổi lớn nhất kể từ lần ban hành đầu tiên.
Từ năm 1992 đến 2013,quan điểm của COSO đã có những điểm thay đổi cơ bản: - Ngăn ngừa, phát hiện và giảm thiểu các gian lận; - Ứng dụng sự phát triển của khoa học công nghệ; - Đáp ứng các nhu cầu, quy định, chuẩn mực; - Sự thay đổi trong mô hình kinh doanh phù hợp với sự biến động của thế giới; - Hướng đến sự toàn cầu hóa thị trường và hoạt động kinh doanh mở rộng; - Tăng cường các chiến lược cạnh tranh và trách nhiệm giải trình trước xã hội; - Tiếp cận theo hướng mong đợi vào việc quản trị kinh doanh ở tầm vĩ mô. -Năm 2017, COSO đã đưa ra những thay đổi trong quan điểm về quản lý rủi ro cần gắn với chiến lược, mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp. Các yếu tố cấu thành của KSNB theo báo cáo COSO Theo Báo cáo COSO thì một KSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, các bộ phận này gắn liền với 17 nguyên tắc KSNB, đó là: Hình 1-2. Các yếu tố của hệ thống KSNB 6 -Môi trường kiểm soát: tạo ra sắc thái chung trong DN - nơi mỗi người tiến hành các hoạt động và thực hiện nghĩa vụ kiểm soát của mình.
Chính môi trường kiểm soát làm nền tảng cho các thành phần khác của KSNB. Nguyên tắc 1: Đơn vị thể hiện sự cam kết về tính trung thực và các giá trị đạo đức. Nguyên tắc 2: Hội đồng quản trị độc lập với người quản lý và đảm nhiệm chức năng giám sát việc thiết kế và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ. Nguyên tắc 3: Dưới sự giám sát của Hội đồng quản trị, nhà quản lý xây dựng cơ cấu, các cấp bậc báo cáo cũng như phân định trách nhiệm và quyền hạn phù hợp cho việc thực hiện các mục tiêu.
Nguyên tắc 4: Đơn vị thể hiện sự cam kết về việc thu hút nhân lực thông qua tuyển dụng, phát triển và giữ chân các cá nhân có năng lực phù hợp để đạt các mục tiêu. Nguyên tắc 5: Đơn vị chỉ rõ trách nhiệm giải trình của từng cá nhân liên quan đến trách nhiệm kiểm soát của họ để đạt được các mục tiêu.